TÂM SỰ NGƯỜI LÍNH ĐỘC THÂN TRÊN ĐỈNH CAO BIÊN GIỚI


Không có người sĩ quan nào gần lính bằng người trung đội trưởng. Những thân phận cùng chung,  những chịu đựng cùng chung và cùng chung bao thiếu thốn từ quân số, quân nhu cho đến ngày cuối cùng giã từ đời lính ...

  nhớ về những người lính trung đội tôi đã nằm xuống 50 năm về trước 

Đinh trọng Phúc Tiểu Đoàn 105 ĐPQ / Tiểu Khu Quảng Trị



***
Đón Giao Thừa một phiên gác đêm
Chào xuân đến súng xa vang rền
Xác hoa tàn rơi trên báng súng
Ngỡ rằng pháo tung bay, ngờ đâu hoa lá rơi...

(Phiên Gác Đêm Xuân/ Nguyễn văn Đông)

    
    Mẹ ơi, biên cương giờ đây trời vắng quá. Con giờ đây đang ngồi dưới chiến hào. Con yên lặng nhìn bầu trời khuya vắng lặng, sương khuya ướt cả hai vai. Đêm đêm con nhìn những đóm sao khuya, ánh sao lấp lánh, từng là bạn. Có những khi con định huớng  phương nam xa vời nơi đó có gia đình mình đang nổi trôi vào và giờ không biết kiếm sống ra sao?

     Mẹ ơi, trời đêm miệt núi quê nhà sao lạnh lắm? Trong màn đen của đêm khuya nhưng thật ra là hồi hộp, căng thẳng. Từng phút giây qua đi trong canh khuya thanh vắng, con cố thức tỉnh, trấn áp cơn buồn ngủ trong người lắng nghe thật kỹ lưỡng từng tiếng động nhỏ trong đêm . Linh giác chực chờ hay phán đoán từng âm thanh rình rập đâu đó dưới chân chốt, trong lùm cây bụi rậm, những đe dọa lởn vởn đâu đây ? Mẹ ơi, có thể đó là những tiếng động của chiến tranh, của giành giựt,  cướp nhau từng mạng sống. Hàng đêm, chúng con trên chốt này là những người lính trận tiền đồn, mắt căng ra như muốn 'xé toang ' đêm đen dày đặc, rình rập, chết chóc.    

  Chúng con phải tính toán, gìn giữ từng vùng đất, lùm cây hay đỉnh đồi hoa lá. Trời khuya rồi, chúng con phải đổi gác cho nhau, chia sẻ nhau từng phút giây được ngủ, được quên đi những tháng ngày quạnh hiu trên Trường sơn biên giới mẹ ạ. Thỉnh thoảng con cố lắng nghe vài tiếng con tắc kè gõ nhịp trong những hóc cây hay đôi ba tiếng con mang nào đó rời rạc kêu lên trong đêm trường. Rồi nữa, con còn nghe tiếng chim  từ quy kêu mãi đêm trường.  Tiếng chim nghe "Bóp Bì Bóp" lạ làm sao?  Trong đêm dài tiếng chim kêu mãi cho đến khi ánh dương hé dạng mới thôi Ánh dương lên là điều con thường chờ đợi. Những người lính sẽ thở phào do  bớt được phần nào căng thẳng trong một đêm dài. Mặt trời lên cao, sẽ tỏa sáng khắp những đỉnh núi hiu quạnh, chơ vơ cùng trời mây im vắng. Quanh chúng con những đồi tranh kéo dài bất tận, những con suối dưới chân đồi im lìm, quanh co uốn lượn về tận vùng thấp dưới xa.

                        ĐÊM TRƯỜNG SƠN

 Đêm nay kỷ niệm chập chùng xa vời đang sống lại trong tim con, trong màn đêm biên giới. Giờ đây sau lưng con, khoảng xa vời kia giờ chỉ là một thành phố đổ nát hoang tàn còn ba mẹ và mấy em thì đang ở tận phương xa, đường dài hun hút. Con không biết giờ này trong nhà có ai đang nhớ đến con không? riêng con, đêm nay ngồi đây con nhớ nhà lắm mẹ ạ. Nhưng nhà còn đâu nữa để nhớ! ngày tháng ly hương bà con lôi xóm mỗi người mỗi ngả. Thế là từ ngày đó, người dân Quảng trị trở thành  biệt xứ.

   Xếp áo thư sinh bao nhiêu mộng ước con đành bỏ lại. Ôi Quảng trị, thành phố thân yêu ngày hai buổi đến trường. Bạn, thầy yêu dấu giờ chẳng còn ai trong những ngày ly loạn, Con quên sao được từng khuôn mặt thất thần, hốt hoảng của người dân mình ngày phải bỏ xứ mà đi, tứ tán khắp nơi!

  Mẹ ơi, mấy tuần nay trên vùng biên giới này con vẫn sốt trong người nhưng  con chưa về được.  Tóc con rụng nhiều. Mẹ ơi !  lúc này con biết đã mang chứng sốt rét trong người.  Người con gầy rọc đi, nhưng con chưa về được mẹ ơi ! chứng sốt vẫn hoành hành trong đơn vị.  Mà về đâu hởi mẹ? trong nam cả nhà mình đang trôi nổi lưu linh. Mẹ ơi, con từng gắng nấu sôi nước khe pha miếng sữa lấy sức trong người nhưng con vẫn luôn có cảm giác buồn nôn, trong mình lúc nào cũng hâm hẩm sốt!
 

   Đêm nay, từng phút giây con cố căng mắt nhìn vào màn đêm sâu thẳm phía trước.  Có tiếng côn trùng nào nỉ non rền rỉ, điệu nhạc buồn giữa chốn rừng khuya. Mẹ ơi, ngày kia con đã  phơi khô một đống cây rừng, rễ giống nhân sâm phơi khô để dành trên chốt tự bảo rằng cây 'thuốc bổ' (2)


             hình  bắc quân đang chiếm đỉnh Động Ô  Do đầu năm 1972

 Chốn biên thùy này xuân tới chi ?
Tình lính chiến khác chi bao người
Nếu xuân về tang thương khắp lối
Thương này khó cho vơi, thì đừng đến xuân ơi !


    Mẹ ơi! chúng con nơi này sống bên nhau, khổ bên nhau,  không than vản không phiền hà ai,  cuộc sống đơn giản đến mức cùng của đơn giản.  Chúng con từng sẻ chia nhau từng miếng ăn, từng điếu thuốc. Lam sơn chướng khí,  da mặt chúng con tuy đã đổi màu nhưng tình huynh đệ luôn nồng thắm. Mẹ ơi! nhìn anh em còn lại, nhớ những khi hẩm hút bên nhau  chan chứa tình  đồng  đội. Lính xa nhà , xa quê,  thì làm sao con chia tay mà về lại phía sau cho được?   Tình mẹ ngóng tin con ngày tháng phương xa con rất hiểu, nhưng nợ nước phận trai giờ đây giữa chốn biên thùy nên xin mẹ con chưa về được mẹ ơi./.


đinh trọng phúc (tái edit)từ
bản gốc 


(*) tại sao chống gậy:
 Lính sốt rét nhiều về bệnh xá diên sanh, thiếu lính nên phải gác 2 lần một đêm do thiếu quân số, tất cả trung đội trưởng trở xuống đều phải gác một đêm 2 lần nên thiếu ngủ trầm trọng Sự mất ngủ nhiều ngày cùng thiếu thốn vật chất càng làm sức khỏe thanh niên suy nhược 


        chim Từ Quy 
nhờ sau này có Internet, hồi đó tác giả chỉ nghe trong đêm không có cơ hội nào nhìn thấy con chim "bóp bì bóp" đó cả và cũng chưa nghe ai nói Từ Quy là gì?

 
(1) Tiếng chim từ quy : thời gian này chính tai của tác giả có khi đứng canh ban đêm nghe tiếng chim từ quy gọi nhau rừng , nó kêu như vầy...bóp , bóp , bóp bì bóp , rồi lập lại như vậy mãi từ chập tối cho đến khi trời rạng là ngưng. Chim này sống từng cặp, kêu cho đến khi gặp nhau là trời sáng

(2) sâm rừng là gì?
 một giống cây có rể giống từng củ cà rốt,  chúng tôi gọi là 'SÂM RỪNG', lính đào lên đem rễ cắt nhỏ phơi khô và nấu uống Không ai công nhận là sâm cả May mà không chết?

KÝ ỨC CỦA NHỮNG NGƯỜI TRUNG ĐỘI TRƯỞNG VNCH: NHỮNG ÔNG CHUẨN ÚY "KISSINGER" LÀ GÌ?

 

NĂM MƯƠI NĂM NHỚ CÂU CHUYỆN "QUAN THỪA LÍNH THIẾU"


LỊCH SỬ CÓ GIÁ TRỊ KHI CHÚNG TA DÁM VIẾT RA SỰ THẬT

 

NĂM MƯƠI NĂM ÔN LẠI CHUYỆN XƯA

Ký Ức của những người Trung Đội Trưởng sau lệnh ĐÔN QUÂN 


KHÓA BA ĐÌNH 12B/72 SĨ QUAN TRỪ BỊ 

TRƯỜNG ĐỐNG ĐẾ NHA TRANG 

CHỈ HUY TRƯỞNG: TRUNG TƯỚNG DƯ QUỐC ĐỐNG

 

TẠI SAO CÓ CHUYỆN NHỮNG ÔNG CHUẨN ÚY “KISSINGER”


Chào bạn đọc


Tại sao có cái tên “Chuẩn Úy Kissinger” đó ? Ai là người hiểu chuyện này?

Chỉ có những người trung đội trưởng ra trường sau 1972 mới hiêu và "thấm thía" chuyện này.

Đúng vậy, họ là những người được lệnh gọi "tổng động viên" từ TT Nguyễn văn Thiệu nhưng thực tế chiến trường đang cần LÍNH hơn là QUAN.

Những người trung đội trưởng ra trường sau khi ồ ạt vào các khóa Sĩ quan Trừ Bị do họ là sinh viên và học sinh trung học có tú tài I trở lên...

Có những khóa đông hơn cả ngàn SVSQ phải tách làm 2 khóa (ví dụ khóa tác giả hơn 1000 người phải tách ra 2 là 12/72 và 12/72 B SQTB ra trường 24/11/1973)


Trong lúc này ngoài mặt trận đang thiếu LÍNH trầm trọng

Chưa nói đến các SVSQ trường Võ Bị Quốc Gia nhờ vào 4 năm khóa học nên lượng tân SQ thiếu úy Võ Bị ra trường ít hơn

Đây là những sự thật của QLVNCH chỉ có những người trung đội trưởng ra trường sau 1972 mới hiểu sâu sát tình hình hơn do họ là 

CHUẨN ÚY 'KISSINGER'


Chuyện kể về Việt Nam Cộng Hòa hay Quân Lực VNCH một trang sử chiến bại trong cuộc chiến Quốc Cộng đã được nói hay viết quá nhiều nhưng người viết thiết nghĩ câu chuyện “Những Ông Chuẩn Úy Kissinger” có thể ai là người trong cuộc mới hiểu vấn đề này có thật. Những người Sĩ Quan cao cấp nhưng vị chỉ huy có chức vụ cầm đầu đã ra trường trước giai đoạn chiến sự 1972 thì khó biết được. Lý do là họ đâu còn ở cấp trung đội nữa mà là mấy ông cỡ Tiểu đoàn trưởng trở lên họ đã qua cái thời kỳ mang cái “quai chảo” trên ve áo, mặt còn trẻ măng “búng ra sữa” như mấy anh thanh niên thụ huấn sau thời điểm 1972 Mùa Hè Đỏ Lửa.




"mạnh ai nấy chạy" sự kiện 1972 hơn ai hết là người Quảng trị riêng đối với tác giả bài này đây là hình ảnh "nhức nhối" nhất trong loạt ảnh Mùa Hè Đỏ Lửa di tản và di tản ...em bé ngơ ngác nhìn chiếc xe chạy qua trong tuyệt vọng khi lính bu cứng theo chuyến xe để vô được Huế? Từ lúc tuyến Đông Hà vỡ, BỘ Tư Lệnh Sư đoàn 3 bị pháo suốt ngày đêm, phi cơ của Mỹ hoàn toàn không yểm trợ lúc Đệ Thất Hạm Đội còn có mặt trên Biển Đông với HKMH Enterprise và Midway ...DI TẢn phát xuất từ Sư Đoàn 3 và tư lệnh VŨ Văn Giai hết nắm được tình hình và một sư đoàn mới thành lập một sư đoàn không xứng đáng đứng mũi chịu sào tại Địa Đầu Giới Tuyến do là ô hợp và bổ sung từ các đơn vị khác nên không hề sánh ngang hàng với các sư đoàn Dù và TQLC hay các liên đoàn Biệt Động Quân được. Đừng trách Chuẩn Tướng Vũ văn Giai mà hãy trách Bộ Tổng Tham Mưu và ngay cả TT Nguyễn văn Thiệu. Sự rút quân ồ ạt của Sư Đoàn 3 cũng từ đó thuật ngữ Di Tản Chiến Thuật được dùng nhiều trong cuộc chiến chống lại sự tấn công ồ ạt của CS Bắc Việt. Di Tản Chiến Thuật là thua là để đất cho CS chiếm giữ. Nhưng nói sao hơn, QLVNCH vừa thiếu thốn vừa phải có nhiệm vụ vừa giữ đất vừa giữ dân, trong lúc chỉ có thể cầm cự ở thế phòng thủ qua chiến thuật đóng chốt chứ không còn khả năng hành quân tấn công với địch được?
Cay đắng sao? cùng vào năm này tức là 1972, người bạn Đồng Minh Hoa kỳ hàng ngày vẫn eo xèo áp chế và đe dọa cắt viện trợ mọi điều nếu VNCH không chịu ký thỏa hiệp thua cuộc mất đất là Paris 1973?


MÙA HÈ ĐỎ LỬA và LỆNH ĐÔN QUÂN nhưng CÁI TRỚ TRÊU LÀ LÍNH THIẾU QUAN THỪA


1972 là cái mốc thời gian trong Chiến Tranh Việt Nam khi quân Bắc Việt tung toàn lực đánh VNCH trên các mặt trận nhất là từ Quân Khu I cho đến Quân Khu III. Cũng từ 1972 với sự rút lui của Sư Đoàn 3 Giới Tuyến mới có từ “Di Tản Chiến Thuật”. Di tản Chiến Thuật nói cho đúng ra là rút quân ồ ạt. Nhưng cái hậu quả nguy nan nhất của Di Tản Chiến Thuật kèm theo sự hoảng loạn của người dân chạy bám theo người lính mới gây ra sự tan rã đến càng nhanh hơn.


Lệnh Đôn Quân từ TT Nguyễn Văn Thiệu nhắm vào tầng lớp sinh viên học sinh, tất cả đều bớt một năm gia hạn tuổi và phải vào quân trường hết. Nhưng cái khủng hoảng của chiến trường miền nam là THIẾU LÍNH chứ chẳng hề THIẾU SĨ QUAN.  Từ ông Thiệu cho đến Bộ TTM chẳng hề nghiên cứu điều này. Những người nhận LỆNH ĐÔN QUÂN đều ít nhất có văn bằng TÚ TÀI I trở lên.  Người viết cũng thế dù có Tú Tài II nhưng chẳng vào Đại học được. Vào quân trường các tân khóa sinh có nhiều người đã có bằng cao học nhưng chỉ rớt 1 năm là "a lê hấp" vào quân trường. Các đại đội tân khóa sinh, nếp gạo trộn lẫn ...tú tài, cao học, sinh viên năm thứ...rồi sẽ ra chuẩn úy giống nhau và dĩ nhiên là họ không thể tốt nghiệp trung sĩ hay binh hai được.


Thế là các quân trường từ trung tâm tuyển mộ nhập ngũ cho đến Quang Trung, Trường Võ Khoa  Thủ Đức, Đống Đế Nha Trang mỗi khóa đều trên một ngàn khóa sinh có lúc phải chia hai. Đôn quân và đôn quân từ đó các tân chuẩn úy ra trường tràn đầy đơn vị. Một trung đội ngoài chuẩn úy (hay thiếu úy) trung đội trưởng lại phải kèm thêm một ông tân chuẩn úy mới ra trường. Người tân chuẩn úy này chẳng có việc gì làm, trong lúc lính lại thiếu, có lúc phải mang ba lô đi qua trung đội khác chịu cảnh “không nhà, không đơn vị” …từ đó cái danh hiệu Kissinger ra đời .


TAI SAO LẠI CHỌN TÊN KISSINGER ?



Lê Đức Thọ (bìa phải) nói chuyện với Henry Kissinger qua người phiên dịch (lê đức Phương) tại Paris năm 1972


Nếu trở lại Chiến Tranh VN vào thời gian đó Henry Kissinger là người ngoại trưởng có sứ mệnh đi đi về về, Mỹ VN, Mỹ Paris với nhiều nhiệm vụ như “con thoi” Vị ngoại trưởng này còn là Cố Vấn An Ninh cho TT Mỹ là Richard Nixon và nắm rất nhiều yếu tố then chốt trong chiến tranh và hòa đàm nên còn bị gán cho cái tên là “Phù Thủy”. Nhưng hình dung người tân chuẩn úy đi đi về về trung đội này qua trung đội khác thế là bị gán cho ám danh là “chuẩn úy Kissinger” là thế. Kissinger là “rày đây mai đó” không có trung đội nào để nắm cả. Một thời gian đầu ra trường chính tác giả câu chuyện này cũng lâm vào hoàn cảnh này và chứng kiến đồng nghiệp ra sau mình một thời gian.


 HÌNH ẢNH THẰNG BẠN CÙNG KHÓA TỐNG HUỲNH THA  NGƯỜI “CHUẨN ÚY KISSINGER” TỘI NGHIỆP MÀ TÔI NHỚ MÃI TRONG LÒNG




    Tống Huỳnh Tha là đứa bạn đồng khóa 12B/72 không biết tại sao lại trôi giạt ra cái tiểu khu “chó ăn đá gà ăn muối” này? Người kể, là gốc Quảng Trị do thương nhớ Quảng Trị mà tình nguyện chọn ra đây, về Quê Ngoại. Còn thằng Tha hắn là gốc Chợ Lớn người Tàu sao lưu lạc chốn này. Tha  ra Tiểu Khu Quảng Trị về Tiểu Đoàn 105 rồi về đại đội chúng tôi. Các sĩ quan mới cấp số trung đội trưởng đang dư thừa. Thật ra hắn trình diện tiểu đoàn 105 khá lâu. Ông Hồ Văn Cầu Tiểu đoàn Trưởng cho Tha tạm ở bộ chỉ huy tiểu đoàn một thời gian do không biết phải đẩy về đại đội nào? Vô lý ở mãi tiểu đoàn, thế là Tha phải về đại đội HAI của đại úy Lê Kim Chung. Nhắc đến Tha, trước tiên Đại Úy Lê quang Hiền chỉ lắc đầu ái ngại do hắn ta là lai Tàu mà lại người Sài Gòn. Tiếng Việt đã “lơ lớ” nhưng ác hại thay, hắn lại bị tống ra cái xứ tiếng nói trọ trẹ thật “ư là nặng” ngay người kể chuyện đôi lúc nghe cũng ngớ ra huống gì thằng bạn gốc nam? Thêm vào đó tâm tính người gốc Tàu làm sao "hội nhập" cho được vào cái xứ miền trung cực khổ, khó khăn rồi sinh ra khó chịu. Nói thật thì mất lòng, có thể độc giả chẳng ưa giá như thằng bạn đó trôi giạt về miền nam lục tỉnh nơi dân tình hào phóng dễ dãi hơn thì đỡ khổ cho hắn.


Tội nghiệp Tha hắn không biết đi đâu? Đầu tiên cũng kiếp ‘ăn tạm ở nhờ’ ở ban chỉ huy đại đội rồi chẳng có việc gì làm do trung đội trưởng trung đội nặng đã có thằng bạn khóa 9B/ 72 Lê văn Linh gốc Huế chiếm giữ rồi. Thằng Linh thì miệng liếng thoắng, khá vui vẻ và nhất là biết cách pha trò hay vừa lòng Đại đội trưởng hơn mấy trung đội trưởng khác nhiều. 



Thằng Tha, mang số phận “Kissinger” đúng nghĩa nhất. Ở ban chỉ huy đại đội lâu ngày nó lại là “đại sứ con thoi” tức là ông Henry Kissinger thời đó, khi ở trung đội này rồi sang trung đội khác. Nó không là trung đội trưởng khi trung đội trưởng đã đủ. Tha chỉ mang cái danh giả hiệu là “phụ tá trung đội trưởng" cho có. Phụ tá gì, có việc gì đâu. Giá như hắn ở vào thời lên núi Ô Do lúc lính đau thiếu thì có thể "phụ gác" với trung đội trưởng là tôi. Lên Động Ô Do sau này lính bị sốt rét đau hơn một nửa, trung đội chỉ còn 20 mạng. Quan Lính gì cũng chia nhau mà gác 2 ca một đêm.

Thời gian người kể về Tha là lúc đơn vị còn đóng ở Triệu Phong sau tết 1974.


...tiếp tục câu chuyện, tôi từng tự hỏi trong lòng lại hai chữ “phụ tá” nó chẳng có ý nghĩa gì nếu không muốn nói ra là quá dư thừa. Tôi là nhớ số phận một chuẩn úy khác cũng ‘trôi nổi’ về đại đội 2 chúng tôi một thời gian.

 Thằng Phước người nam, cũng chẳng có công việc do dư trung đội trưởng. Mà dư trung đội trưởng có nghĩa là do quân trường Thủ Đức và Đống Đế cho “ra lò” nhiều tân chuẩn úy sau cái LỆNH ĐÔN QUÂN. May cho thằng Phước, mang số thất nghiệp chỉ một thời gian. Vừa đổi quân lên vùng núi Ô Do thì hắn được Đại Đội trưởng Chung cho nó thuyên chuyển về Tiểu Đoàn để lấy sứ vụ lệnh về lại Sư Đoàn I do đòi hỏi của Quân Khu. Phước đi chưa hết mừng cho nó do nó đã thừa mà lại không được lòng Đại đội Trưởng cho lắm.




Nửa thế kỷ qua thế nhưng người kể chuyện chưa quên khuôn mặt của Tha. Một khuôn mặt phải nói là ngơ ngáo nửa giọng SG cùng lơ lớ giọng Tàu. Bộ đồ lính bạc màu, bụi đất xem chừng chẳng hề thay. Hắn là một “Kissinger” thì làm gì có một trung đội để chỉ huy cùng hầm trú ẩn hay máy liên lạc PRC 25. Dĩ nhiên, Tha chẳng hề có người lính nào dưới tay. Rõ ràng Tha 'chẳng có nhà mà chẳng có việc'. Không có lính thì ai nấu ăn cho. Có người thương thì kêu Tha tới ăn có lúc bị lơ đi thì thật tội? Một trung đội không thể có "2 vua", quả thật người trong cuộc như người viết mới chứng kiến cảnh trung đội trưởng lúc này quả thật dư thừa.  Sau Hòa Ước Paris, số trận đánh ít đi do vậy cảnh hao hụt sĩ quan trên chiến trường ít đi rõ rệt. Trước Hòa Ước 1973 chỉ vài trận là số sĩ quan mới ra đơn vị hao đi rất nhanh thì làm gì có cảnh lính thiếu quan thừa?



Nhờ vào ngưng bắn hay Thỏa ước Ba lê nên không còn chuyện sĩ quan ra trường "bị nướng" nhiều thế là cái hệ quả của câu chuyện ĐÔN QUÂN xuất hiện. Đôn quân đồng nghĩa đa số sinh viên và học sinh có bằng tú tài trở lên đều vào quân trường. Họ ra trường mang cái lon đầu tiên là chuẩn úy và rồi khi mặt trận lắng dịu khắp nơi, dĩ nhiên sẽ hiện ra cái cảnh  quan dư lính thiếu. Lính thiếu là câu chuyện thực tế. Các ông tướng tá trên cao đâu hiểu hết sự tình này. Học trong quân trường, cấp số một trung đội là 42 người. Thực tế ra trường trong trung đội của người viết hiếm khi tới được 30 người. Người thiếu nhưng đạn dược tiếp vận cũng thiếu. Có ai nghĩ rằng một trung đội trưởng đang ở tiền tuyến chỉ có trong mình 3 quả lựu đạn M 67 và 150 viên đạn AR 15 chăng? Chốt trung đội tại Động Ông Do của tôi chỉ có 2 quả mìn Claymore để gài  nhưng một quả không có kíp nổ. Còn lính thật tình quá thiếu. Lính thiếu do không mộ được lính, lại còn tình trạng đào ngũ…có đứa từ bộ binh về nhà một thời gian đào ngũ tiếp ra địa phương quân. Có khi đào ngũ qua đơn vị khác nhưng đơn vị cũ vẫn còn ăn lương chưa báo (lính ma)...


Chuyện 50 năm chỉ có người sĩ quan cấp nhỏ có nghĩa là trung đội trưởng giáp mặt với quân địch do phải ở phía ngoài cùng mới thấu hiểu bao gian nan thiếu thốn.


***


TÔI GẶP LẠI TỐNG HUỲNH THA SAU NGÀY  "GÃY SÚNG" 


Mười mấy năm sau ngày người viết ở tù về, quá bất ngờ lại gặp và nhận ra Tha tại vùng Chợ Lớn. Hắn đang lang thang với chiếc xe đạp gà tàng đi mua phế liệu gần khu vực BV Chợ Rẫy.


 Người viết cũng chẳng hơn  gì, đang đạp chiếc xe đạp thồ từ miền rừng rẫy lại vào đất SG làm phương tiện do phải đi nuôi mẹ già đang nằm bệnh viện Chợ Rẫy. Mẹ người viết đang được cắt một trái thận tại đó. Tuy Tha phải đi mua phế liệu kiếm sống nhưng so ra, hoàn cảnh của người viết còn tệ hơn Tha do hắn dù sao cũng là dân thành phố. Hàng ngày người viết phải dùng chiếc xe đạp thồ nặng nề bới từ vùng nương rẫy Hàm Tân vào SG làm phương tiện đạp từ Gia Định qua BV Chợ Rẫy nuôi mẹ.  Hai đứa gặp nhau gần 20 năm sau ngày tù tội, chưa hết mừng, tôi đã nhận ra khuôn mặt Tha đầy ác cảm ... 


Mặt Tha đỏ gay, bao nỗi uất hận, mặc cảm sau bao năm hắn vẫn không quên. Đó là hình ảnh cái ngày hắn mang cái lon chuẩn úy ra trình diện cái xứ QT quê tôi- "chó ăn đá gà ăn muối" lòng người thì khô khan không hề hào sảng, cảm thông nào với hắn. Linh tính báo động cho tôi hay rằng hình như hắn muốn trút bao uất hận thù ghét vào tôi vào giây phút đó...


Tôi vội chuồn mất không kịp nói từ biệt với Tống Huỳnh Tha. Mang cái giỏ thức ăn từ nhà mợ tôi tại chợ Bà Chiểu Gia Đình lên tầng hai BV thăm mẹ già, trong lòng tôi chỉ biết mừng cho Tha còn sống trở về với Chợ Lớn nơi xứ người Tàu hay Minh Hương gì đó của hắn.


Đúng nửa thế kỷ qua đi người viết không còn ca cẩm phàn nàn chuyện thiếu thốn mọi thứ từ viện trợ cho đời lính VNCH do khi đã hiểu ra người bạn ĐỒNG MINH ĐÃ BỎ BẠN DỨT GÁNH GIỮA ĐÀNG chuyện này nói ra cũng thừa do đã được nói quá nhiều...Dù sao đã qua được xứ Mỹ, con cái đã thành đạt mọi bề đó là phần thưởng cho những người từng thiếu thốn mọi bề những ngày ra đơn vị hay tù tội sau này.


Tác giả có thể cho rằng trong những cái không hề ai biết do các vị sĩ quan cấp cao, quyền lợi đầy đủ “tà lọt, gác đơ co” thừa thãi bên mình họ chẳng hề hay hay chẳng cần biết làm gì, có những ký ức và hình ảnh chỉ có NHỮNG NGƯỜI SĨ QUAN TRUNG ĐỘI TRƯỞNG SAU THỜI ĐÔN QUÂN 1972  NHỚ MÃI  mà thôi.


Đó là chuyện của những người Chuẩn Úy mang cái biệt hiệu “Kissinger” ra trường một cách thừa thãi vô duyên do họ tuy tốt nghiệp Trung Đội Trưởng mà chẳng hề có dư trung đội để nắm. 


Cái hệ quả của LÍNH THIẾU QUAN THỪA sau MÙA HÈ ĐỎ LỬA 1972 TỪ MỘT CÁI LỆNH ĐÔN QUÂN THIẾU THỰC TẾ vào NHỮNG NĂM CUỐI CÙNG CỦA TRANG SỬ SẮP SỬA SANG TRANG./.

 

ĐHL viết cho 50 năm THÁNG TƯ ĐEN

LÁ THƯ TRONG TÙ






30 THÁNG TƯ ĐỌC LẠI LÁ THƯ NGƯỜI CHA GỬI CHO CON TRONG TÙ

HÀM TÂN 20/4/79
Phúc con
Ba nhận được thư của con 2 hôm nay , vội trả lời con rõ, nghe con lên cân và cao 1m70 ba mẹ rất mừng khuyên con cố gắng bảo vệ sức khỏe và lao động thật tốt và tiến bộ ba mẹ mừng
Nhưng cũng buồn vì quá xa xuôi không có sự bồi dưỡng cho con và thăm viếng khó khăn và xe cộ tiền bạc kẹt, nên định trước tết hoặc sau tết mẹ con ra thăm con , bây giờ lo chuẩn bị dành dụm tiền từng ngày một, khi nào ra sẽ biên thư cho con biết trước . Cách đây 2 tuần ba có gởi thư cho con và em Hòa không hiểu đã nhận được chưa
Khi nào mạ ra sẽ đem theo các thứ đúng như trong thư con cần nhất là khoai luộc và ớt ruốc tươi v v
Hiện mẹ con đang xắt khoai khô, mùa này lúa không ra gì chứ khoai thì tha hồ xắt không kịp vì không có ...






VIẾT TỪ KBC

 


VIẾT TỪ KBC

Tặng bạn FB từng là LÍNH

Từ KBC giá lạnh rừng sâu.
Anh gửi lời thăm về em yêu dấu….(Mạc Phong Linh -Viết từ KBC)

*





Bạn mến, 

Chúng ta từng là lính, người lính VNCH từng ra đi để bảo vệ mảnh đất Quê Cha Đất Tổ. Ôi nhớ làm sao ngày đầu nhập ngũ, những giây phút ngỡ ngàng, lạ lùng với đời sống quân trường. 




Những ngày tháng thao trường, chúng ta vật vả mồ hôi trong nắng nóng cùng các buổi tập luyện mệt nhoài. Nào những đêm đi ứng chiến, nhớ sao bao phút chúng ta tâm sự .  Dần hồi chúng ta có thêm bạn mới, đó là những ngày đầu quân ngũ. Nhiều người trai từ mọi miền đất nước cùng nhập ngũ rồi lại quen nhau. Ngày tháng quân trường, chúng ta từng kể cho nhau nghe nhiều tâm sự cất giữ  tận đáy lòng, nhiều mối tình vừa chớm lại vội ra đi...


một câu lạc bộ tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung






Ai còn nhớ chăng những phút nghỉ  ngơi hiếm hoi sau một ngày hay sau giờ tập huấn?



Chúng ta nhớ sao mấy ly chanh đường trong câu lạc bộ. Sướt mướt vài  bản nhạc tình, bạn và tôi cùng lắng đọng tâm tư. Trong giây phút đó, tụi mình thấm thía làm sao từng câu từng chữ? Những khúc hát như thấm vào tim, bao cảm xúc rung động thật tình. Thật vậy, mỗi đứa chúng ta ai mà không có một mối tình tạm gác ở hậu phương. Cuộc sống mới-nhà binh, bắt đầu cuộc đời quân ngũ...bốn vùng chiến thuật đang ngóng đợi chúng ta. Một ngày chúng ta sẽ tản mác tứ phương, ba lô nặng trỉu, súng đạn lên đường. Chốn bùn lầy nước đọng, núi rừng thâm u của cao nguyên gió hú, hay vùng "hỏa tuyến địa đầu"... biết ngày mai ra sao để cho anh hẹn một ngày về? 





Có nhiều kỷ niệm cho mấy tháng quân trường. Nước da chúng ta sạm đen dưới nắng. Thân thể mệt nhoài từ kỷ luật và lối sống nhà binh. Bao lớp trai sẽ tiếp nối những lớp đàn anh để bảo vệ quê làng. Người lính miền nam ra đi không vì lòng tham lấn đất, không vì những lý tưởng nhồi nhét căm thù hay man trá. Người miền nam chỉ ngần ấy ước mơ bình dị. Thanh niên quê hương miền nam chúng ta xếp bút nghiên lên đường. Bổn phận làm trai chúng ta tạ từ cha mẹ già, em thơ và người yêu thương nhớ chỉ mong một ngày thanh bình về lại với ruộng mía nương dâu.


những ngày khóa sinh Đống Đế Nha Trang













Rồi mấy tháng quân trường qua nhanh. Bạn bè mỗi đứa một phương trời - Bốn Vùng Chiến Thuật- khó biết tin nhau? Khói lửa chiến chinh bao phủ khắp miền. Đỉnh cao rừng rậm, loang lổ hố sâu bom đạn. Giây phút nào thảnh thơi tựa ba lô viết lá thư tình, người lính giờ đây thật là một trời lãng mạn. Có những lá thư viết vội đường nét không đều. Cũng có những lá thư dang dở và có thể có những lá thư mãi mãi sẽ không về được quê 
nhà khi chỉ viết được vài dòng  người lính phải tiếp tục hành quân và có kẻ không bao giờ còn phần đoạn kết.


Đừng buồn em ơi! Nếu hiểu được anh.
Đây miền rừng xanh bụi vương áo lính.
Khi quê mình khói lửa điêu linh.
Nhớ em nhiều biết sao thôi đành.
Vùi chôn khỏa lấp chữ tình (nhạc)


Đó là một thời khi người lính miền nam từng ra đi, hi sinh mọi thứ để che chở cho người người đang ở hậu phương. Đó là một thời có những lá thư VIẾT TỪ KBC chứa chan bao nhớ thương của người lính trẻ quê tôi.Ôi nhớ làm sao những dòng chữ chân tình thẩm đượm biết bao tình thương nỗi nhớ. Ngày ra đi nàng trao chàng cái khăn tay kỷ niệm. Mẹ già tần ngần run run trao nắm cơm thơm. Đứa em thơ bịn rịn lặng nhìn anh không biết nói gì? Nước mắt lưng tròng kẻ ở hậu phương trông theo bóng người đi cho đến khi khuất dạng... 


Viết Từ KBC người lính năm xưa từng trăn trở, ước mong nhưng biết làm sao khi nhiệm vụ chưa tròn. Viết Từ KBC nợ nước tình nhà mãi còn lỡ hẹn, nỗi đau còn đó cho đến bao giờ? Viết Từ KBC, bi tráng và đẹp sao những tấm chân tình hậu phương  tiền tuyến ngày nào./.



Đinh trọng Phúc

BIỂN MẶN QUÊ NHÀ

 

        Tuổi đời qua mau, gió biển mặn nuôi lớn khôn tôi. 
            Nên năm 21 tuổi, tôi đi vào quân đội mà lòng thì chưa hề yêu ai. ..

***


HÔM NAY TÔI NGỒI NHỚ BIỂN XƯA, THÁNG NGÀY ĐÓNG QUÂN BÊN BỜ CÁT TRẮNG, LÚC DÂN CHƯA VỀ VÙNG BIỂN MẶN QUÊ NHÀ HÈ 1974



Năm đó người viết mới ra đơn vị, đúng 21 tuổi đời, độc thân vui tính do vừa giã từ áo trắng thư sinh.
nên năm 21 tuổi tôi đi vào quân đội mà lòng thì chưa hề yêu ai...
ôi bài hát Biển Mặn sao mà đúng thế
Nét lãng mạn trong bài hát của Trần thiện Thanh là đó; nhưng Biển Mặn của bao người con trai Quảng Trị từng đóng quân bên bờ cát trắng Triệu Phong là cả là một sự đợi chờ, nỗi buồn xa vắng ...không phải buồn do người lính trẻ phải đợi chờ thất vọng từ những lá thư xanh của tình yêu đôi lứa mà lòng mong đợi bóng DÂN VỀ
Mời bạn cùng người viết miên man theo con tàu ngược thời gian trở về quá khứ để cùng nhau sống lại dưới vùng trời quê hương năm cũ. Đó là một vùng biển Triệu Phong ngày xưa thanh vắng

Nhớ về 3 thôn Ba Lăng -Vĩnh Huề và Thanh Hội thuộc Quận Triệu Phong tỉnh QT mùa Hạ 1974

Ch/úy Đinh trọng Phúc Đại Đội 2/Tiểu Đoàn 105 ĐPQ Tiểu Khu Quảng Trị 






    Thế là tôi phải tạ từ quê ngoại Nại Cửu, tôi phải xa cầu Ba Bến im lìm không tiếng xe qua. Giã từ để thấy lòng còn vương vấn, nhơ nhớ thương thương từng cơn mưa phùn dai dẳng hay gió lạnh buốt xương của miền quê ngoại. Tôi lại lặng lẽ chia tay với thôn Tả hữu nhỏ bé, lác đác mấy mái tranh nghèo bên con đường đất đìu hiu ven nhánh sông Vĩnh Định ngày đêm không bóng con đò.




THÔN BA LĂNG


Bãi cát vàng ven biển tưởng như xôn xao dưới gót giày những người mới tới. Cát lại bồi hồi lưu luyến tiễn đưa những người sắp được trở về "tuyến trong", nơi đó ít nhiều cũng còn thấy người dân mới hồi cư chứ không hoang vắng như chốn này. Nơi này trên bản đồ gọi là Thôn Ba Lăng là căn cứ của Bộ Chỉ Huy  Tiểu đoàn  105. Vừa từ những chiếc GMC nhảy xuống, chúng tôi đứng đây như người khách mới, tần ngần ngắm từng đợt sóng lao xao vỗ vào bờ. Cát trắng sạch mịn màng. Tôi cố ngước mắt nhìn ra khơi: ở đây chỉ là một vùng biển hoang sơ, chấm phá vài con chim biển. Có đám chim hải âu bay vờn quanh chúng tôi  hai đơn vị đang hoán chuyển với nhau -người xuống kẻ leo lên xe, một khung cảnh huyên náo cả lên. Có một khẩu 106 ly đang hướng nòng trực xạ ra biển, súng này của đơn vị TQLC ở xen với ĐPQ chúng tôi. 

Cậu tôi (VÕ Hoa) Phòng Ba TKQT theo đoàn quân vận về đây. Hai cậu cháu gặp nhau không nói chuyện được gì? Việc nhà binh không xen chuyện gia đình vào được. VÙng giới tuyến chẳng có thì giờ cho cậu và cháu? Tôi lại phải theo đại đội 2 của Đại Úy Lê kim Chung di chuyển NGAY...
 


THÔN VĨNH HUỀ 


Đại đội 2 chúng tôi nhận lệnh Tiểu đoàn men theo mép biển, lội bộ sát mép sóng tiến ngược lên hướng bắc độ 5 cây số thì đến ranh giới hai phe. Trên bản đồ đề thôn Vĩnh Huề, thực tại là một đồng cỏ hoang vu. Tôi lặng lẽ quan sát quanh mình. Đôi lúc tôi khám phá vài ba nền nhà cũ, dấu vết nhạt nhòa trên đồng cỏ ẩm ướt gần mấy đầm 'nước lợ' (nửa mặn nửa ngọt).  Lật tấm bản đổ luôn mang theo trong mình, tôi tìm vị trí thôn Vĩnh Huề. Hai chữ Vĩnh Huề đập vào mắt tôi cảm thấy chút gì lạ lùng đối với các địa danh khác. Trong kia là Thôn Thanh Hội nơi BCH Đại Đội 2 đóng. Xa hơn là Long Quang, Lễ Xuyên những thôn làng chỉ còn những cái tên trên tấm bản đồ  

Thôn Vĩnh Huề- cách Cửa Việt chẳng bao xa, chặng hành trình cuối cùng của giòng Thạch Hãn thân yêu.

Vĩnh Huề Thôn mùa hạ 1974
Các thôn Vĩnh Huề, Bình An- Thanh Hội nằm sát mé biển, đi ra hơn cây số là đến Cửa Việt. Các thôn Này thuộc xã Triệu Vân Quân Triệu Phong QT.

Căn cứ Cửa Việt mất từ đêm rạng Ngưng Bắn 27/1/1973 do vậy chúng tôi ở đây là lằn ranh cuối cùng của 2 phe. Qua khỏi lằn ranh này ra hướng bắc là phía bên kia ...

      Thôn Vĩnh Huề  chỉ là một đồng cỏ hoang vu, ẩm ướt, không một bóng cây, ngoại trừ mấy vạt dương ven biển. Đâu bóng dân làng? Họ đã lưu lạc tận phương trời nào? Có ngày lính trung đội tôi đào lên một số hầm. Thì ra trước lúc bỏ làng ra đi vì chiến cuộc người dân Vĩnh Huề đã chôn dấu nhiều lu, vại bằng đất nung. Tôi thấy nhiều nhất là dĩa nhỏ.  Nói chung những thứ này không giá trị  lắm. Mấy người lính trung đội tôi quê ở vùng này thì cho biết rằng: người dân vùng biển có tục lệ phải cúng trước khi ra khơi đánh cá nên họ có thật nhiều dĩa nhỏ, còn lu vại thì để làm mắm hay ruốc. Những lu vại nào tốt thì để đựng nước mưa . Dân vùng biển quý nước mưa, chỉ để dùng khi giỗ chạp thôi.


 .


         Ngày đầu ra mạn biển, thứ chúng tôi cần nhất là nước. Đừng cho chúng tôi đóng quân sát biển là ngồi chịu cơn khát hành hạ.  Chúng tôi chỉ cần đào lên một hố xấp xĩ một mét là có nước ngọt ngay. Điều này cũng dễ hiểu khi mặt bằng của biển ngoài kia thấp hơn mặt đáy túi nước ngọt đọng dưới lớp cát chúng tôi đang đóng. Thế - lính truyền tin- găp may. Thế 'vớ' đâu ra đươc nửa tấm tôn cũ , rồi Thế uốn cong lại làm thành giếng. Cuối cùng trung đội tôi có được một giếng nước ngọt quý giá . Nón sắt làm gàu; chỉ cần với tay tôi có ngay một gàu nước ngọt ,thơm tho không lẫn mùi phèn như cái giếng trong chốt đại đội. Nhưng, chúng tôi không dám tham lam đào sâu thêm .  Chỉ sâu thêm ít nữa là giếng sẽ bị nhiễm mặn ngay. Tôi chợt nghĩ đến Linh- trung đội trưởng súng nặng- có lẽ cái số nó dính liền với "chữ nặng" nên người nó "không được cao lắm" ! Cái thằng ! miệng khi nào cũng ồn ào.  Dù sao nó cũng được lòng đại đội trưởng Chung hơn tôi nhiều!

   
-Chừ thì mi làm sao thoải mái bằng tau hả Linh? Tau

    chừ ở xa ‘mặt trời’ (ám chỉ đại đội trưởng), tau lại có 
   nước trong - có cả biển thơ -biển mộng nữa đây nghe 
    Linh !
 
    2 trung đội trưởng Lê văn Linh và  Đinh trọng Phúc gặp lại nhau lần đầu tiên sau 40 năm xa cách tại ngày Hội Ngộ Thừa Thiên Huế tại San Jose CA ngày 10/3/2013

 Tôi cười thầm cho ý nghĩ là lạ của mình .


     Tôi lại nhớ đến mấy thằng bạn khác đều mới ra trường như tôi,  lại cùng về chung một đại đội 2 này. Nào Tùng, nào Ngọc cũng là dân Huế như thằng Linh. Tùng và Ngọc thì ít nói hơn, trầm  hơn. Bốn trung đội trưởng chúng tôi cùng xếp áo thư sinh tòng quân sau Mùa Hè đỏ Lửa 1972, lại cùng gặp nhau nơi tuyến đầu Quảng Trị này. Trong khi "dân Nguyễn Hoàng" như Thái Đào cũng khoác áo 'ka ki' một năm nhưng lại phục vụ ngược vào xứ Huế. Số phận Thái Đào thiếu may mắn! chỉ một thời gian ngắn ra đơn vị Đào đã trở thành phế binh mất một chân.

   Chuyện thực tế tiếp đến là củi. Lính chúng tôi chỉ dám thu dọn rồi gom lá dương khô mà nấu ăn thôi. Chúng tôi phải gìn giữ mấy tàng cây rậm để ngụy trang ẩn nấp. Hơn nữa, đất ven biển cần mấy hàng dương này để chống nạn cát lấn dần vào phía trong. Chốn biển vắng vẻ buồn tênh.  Đôi khi tôi có một ít cảm hứng khi ngồi một mình ngắm trời mây, tai lắng nghe tiếng dương reo theo  gió. Trời vào hạ rồi đây. Mấy tuần này gió Lào bắt đầu thổi mạnh. Sóng biển ban ngày bị gió Lào thổi ra cản lại nên chỉ thấy lăn tăn. Chiều về, trời trở Nồm.  Gió vào lại đất liền sóng mới lớn hơn. Lúc này tôi nghe rõ tiếng sóng vỗ bờ , thêm làn gió mang đầy hơi biển mát lạnh khoan khoái vô cùng! 


Vĩnh Huề thôn , có vòng tròn đen tháng 4/1974


 
Đùa chơi với sóng nước

     Biển sát  tầm tay. Trung đội tôi lo xong chuyện ‘cơ ngơi’ mớ rủ nhau ra tắm biển.  Một toán ‘đực rựa’ lột phăng hết áo quần để trở về với "thời nguyên thủy". Dĩ nhiên ở vùng hoang vắng này làm gì có bóng đàn bà để phải ngượng ngùng. Cả toán đàn ông, dàn một hàng ngang ra hụp lặn, đùa chơi với sóng nước. Khi đang nhấp nhô với sóng biển, tôi chợt nhận ra một đám nuốt, trông tựa những cánh bèo trắng , bập bềnh theo sóng dạt vào bờ. Chẳng suy nghĩ, tôi chụp một con đưa vào miệng, nhưng tôi vội phun ra ngay vì nó cay và rát miệng vô cùng !

    - Nuốt lửa đó ,Chuẩn úy ơi !
   Lợi dân làng Hà Tây gần đây nên rành những thứ ở biển.
  Qua làn nước biển trong xanh, tôi thấy rõ từng đàn cá lướt qua vun vút. Giờ đây, tôi tưởng chừng bọn tôi đang ở tại một hoang đảo nào đó.  Mà ở đây hoang vắng chẳng khác gì một hoang đảo đâu?  Cố nhướng mắt nhìn ra khơi,  thấp thoáng phần chóp trên của Hòn Cỏ một hòn đảo không có trên bản đồ trung đội nhưng tôi biết qua hỏi han và tìm tòi.


 Hưởng xong  cái "thú tắm biển" chúng tôi lại "dàn một hàng ngang" về lại vị trí . Xong  chúng tôi dội lại nước ngọt từ cái giếng của trung đội . Riêng tôi được ưu tiên hai gàu nước.  Mỗi người còn lại chỉ một gàu thôi thì giếng đã cạn khô rồi, phải chờ nửa buổi nữa giếng đầy lại.

Bình mình rực rỡ trên vùng biển quê hương chưa có dân về



  Cuộc vui nào cũng qua mau, cảnh tĩnh mịch lại trở về với chúng tôi. Càng trưa ngọn gió Lào càng thổi ra mạnh. Cát bay khắp nơi, nhìn dọc theo bờ biển, gió cát tạo thành từng lớp mây vàng nhạt. Tôi vội lấy nửa tấm poncho cũ che cho chiếc máy truyền tin PRC 25. Tôi rất quý chiếc máy truyền tin này vì nó là
 nguồn liên lạc là mạng sống của cả trung đội. Chiều buông xuống thật lẹ. Tôi nhìn về hướng tây, dãy Trường Sơn in đậm nét trên nền trời của một buổi chiều vàng. Tôi lại ngoái nhìn ra khơi, mặt biển từ từ tối dần lại. Lác đác vài cánh chim còn uể oải bay men theo bờ. Thật ra nồm đã trở đưa ngọn gió mát rượi vào đất liền từ lâu. Trong những khoảnh khắc sảng khoái của một chiều tà ven bờ biển vắng, tôi cùng Lợi lấy miếng xốp khá lớn, bị sóng đưa vào bờ lúc sáng sớm, đem ra đẽo thành một chiếc thuyền nhỏ. Hai chúng tôi còn làm thêm cánh buồm do Lợi  lấy miếng tôn rách làm nên. Xong, tôi không quên thêm vào một bánh lái đằng sau, phía trước tôi viết hàng chữ "Cửa Việt River Mouth "’.

  Sáng dậy, chờ cơn gió Lào thổi ra khá mạnh, hai đứa chúng tôi đem thả con thuyền nhỏ ra biển. Thuận buồm xuôi gió, chiếc thuyền bé tí của chúng tôi theo làn gió đưa ra tít ngoài khơi. Một chút tưởng tượng, tôi chống nạnh đứng nhìn theo chiếc thuyền đồ chơi kia từ từ mất hút. Lòng tôi nửa hãnh diện như đã làm được một công trình 'vĩ đại', nửa như lưu luyến một người bạn vĩnh viễn ra đi. Tôi thầm ước mong một bến bờ nào đó có ai vớt được thuyền tôi.   Hàng chữ ghi trên thuyền họ sẽ biết nơi phần đất này còn có sự hiện hữu của bọn này
.
  Cá ơi là cá! quá nhiều cá đi!

    Mùa tháng hạ, cánh đồng trũng nước khô đi nhanh chóng. Cá nước lợ thiếu nước nằm chờ chết khắp nơi. Mới mấy năm dân bỏ đi khỏi đây, cá sinh sôi nảy nở nhiều vô số. Lúc này đàn chim biển tha hồ bay vào bắt. Từng đám cá nhỏ nước lợ dãy đành đạch trên mấy thảm cỏ nước khô dần. Tuy vậy, Lợi hứa sẽ dẫn trung đội đi hốt cá chứ không thèm ra bắt mấy thứ cá nhỏ kia. Lợi - tôi cùng một vài lính trung đội men theo mép biển đi về hướng nam. Chừng ba cây số thì gặp một bàu nước lớn nằm cách bờ biển chỉ vài trăm mét. Lợi hướng dẫn mọi người dùng xẽng đào một đường hào dài và sâu hơn nửa mét. Đường mương này cạnh bàu nước hướng nhìn ra biển. Đào xong đường hào thì trời đã xế chiều.  Lợi bảo tất cả ra về chờ khuya sẽ đi "hốt cá". Tôi nghe thì nghe vậy nhưng trong lòng vẫn nghi ngờ?




   Chờ tới khuya khoảng một giờ sáng (*) Lợi đánh thức cả bọn dậy đi hốt cá thật. Lợi không quên đem theo ba cái bao lớn nữa. Tôi kiểm soát lại vọng gác thật đàng hoàng rồi theo Lợi hướng về bàu nước. 

Chúng tôi lầm lủi đi trong đêm. Trời về khuya khá lạnh, không gian chỉ nghe tiếng sóng vỗ rì rào. Chúng tôi cứ theo mép sóng mà đi. Sóng biển ban đêm lấp lánh ánh lân tinh. Bầu trời thỉnh thoảng có vài ánh sao băng xẹt ngang. Tôi vừa đuổi theo cho kịp bọn vừa ngắm ánh sao băng, chúng như đang chui vào lòng đại dương vậy. Gió đêm càng về khuya càng lạnh dần. Đêm nay chúng tôi đang đi trong chiến tuyến an bình vì không nghe một tiếng súng nào. Đi hơn nửa giờ thì chúng tôi đã đến con mương cạnh bàu nước chiều qua. 


-Trời ơi! Cá ơi là cá! quá nhiều cá đi! 

Tôi không ngờ cá nhiều đến như thế! cá chen chúc nhau dưới đáy con hào. Toàn là cá tràu. Bọn tôi vui sướng thi nhau hốt cá đựng đầy 3 cái bao gạo không do Lợi mang theo. Chúng tôi thay phiên nhau vác mấy bao cá nặng chĩu về chốt. Trên đường về Lợi mới giải thích cho tôi hiểu: thì ra mùa hạ nước trong bàu cạn dần, mấy chú cá nhất là cá tràu và trê, ban đêm chúng "cảm nhận" theo tiếng sóng biển ‘cằn’(trườn) ra và rớt hết xuống con mương đào sẵn này. Tôi thực sự phục kinh nghiệm của Lợi, một người dân sinh ra cùng lớn lên từ vùng biển. Chung tôi đem cá nhốt ngay vào cái thùng phuy mà Lợi kiếm đâu ra từ lúc nào. Cá trê và rô thì bị nhốt riêng ra vì mấy cái ngạnh nhọn hoắc của chúng biến chúng thành mấy tên ‘sát thủ’ đáng sợ - chỉ cần sơ ý để đám này lẫn lộn vào đám cá tràu một lúc thôi thì đã có mấy con tràu chết lật ngửa bụng trắng hếu!

Mong chờ xe tiếp tế




 Ban chỉ huy trung đội gồm: tôi- binh nhất Thế , mang máy truyền tin PRC25- trung sĩ nhất Thản, trung đội phó của tôi. Tôi hay gọi trung sĩ Thản là "Bố Thản" vì ông đã gần 20 năm lính, dấu chân ông cũng lội gần khắp vùng I. "Bố Thản" cũng sắp đến tuổi về hưu. Cuối cùng là hạ sĩ Sơn- Sơn lo chuyện nấu ăn nên hay lo xa- cá nhiều quá ăn không hết thì đem phơi khô.



    -Sắp đổi lên núi rồi  Chuẩn Uý! 

   Sơn nói với tôi.


  Hạ sĩ Sơn cũng thuộc loại lính khá kỳ cựu trong trung đội nên chu kỳ đổi quân như thế nào thì Sơn kinh nghiệm lắm. Đồng bằng ra biển, chặng thứ ba thì lên núi chứ có nơi nào khác đâu!  Chúng tôi đóng một nơi vài ba tháng là hoán chuyển thôi. Sơn kinh nghiệm rằng lên núi chỉ lo thủ chốt cho kỹ nên không có "mưu sinh" như ở đây được. Thể là hai tuần nay tôi bắt đầu để ý lên hướng núi. Ban đêm hướng Trường Sơn, núi đang bị cháy liên tục, làn lửa dài như con rắn vàng cứ cháy leo lét. (**)

- Ngày mai có tiếp tế rồi!
  
Tiếng Sơn nhắc nhở làm tôi thấy vui hẳn lên.  Thật ra ai nấy trong đơn vị này đều cùng chung một tâm trạng giống tôi. Anh em ai cũng mong ngày tiếp tế mau về. Đóng quân lâu ngày ở một nơi hoang dại anh lính nào cũng mong mau thấy lại bóng dáng chiếc xe tiếp tế của tiểu đoàn. Tuy chiếc xe đã ' ọp ẹp' nhưng lại là niềm vui cho đơn vị. Cách hai tuần nó về một lần tiếp tế thực phẩm cho chúng tôi.

Một ít tưởng tượng, tôi cho rằng xe đang mang theo một ít 'hơi hám' nào đó từ chốn "thị thành" ra đây? Diên Sanh, Mỹ Chánh ư? hay Phò Trạch? mà nếu là Huế thì càng tốt. Cách Huế không xa,nhưng  hình ảnh phong kẹo mè xững- cái tên Song Hỷ giờ sao quá xa vời?

 Chiếc xe GMC đó còn mang ra chốn này những niềm vui cho lính.  Những cánh thư gia đình hay người yêu của mấy anh lính trẻ. Tôi thì cô đơn hơn!  mới ra trường, hai mươi mốt tuổi đời. Thực ra tôi chưa có mối tình đầu nào làm "hành trang mang vai" để nhớ thương cả!


Basto Luxe 

   Sáng dậy, quả đúng là một "ngày hội" cho đại đội 2 này. Mỗi trung đội chỉ cắt vài người  ra bãi biển chờ đồ tiếp tế.  Thế nhưng, khi tất cả tập trung sát mé biển cạnh chốt của tôi, thì sao mà ồn ào nhộn nhịp. Tiếng cười tiếng nói, "mày tau- í ới" lẫn tiếng văng tục ‘loạn xà ngầu'? Chốt tôi ở sát mép biển, xe sẽ tới chờ cạnh đó nên thong thả hơn, chỉ cần đi vài ba bước là đến chỗ đợi. 



   Bastos xanh trước 1975


Đứng sát mép biển tôi hướng mắt trông về hướng nam. Chiếc GMC vừa đổ hàng xong cho BCH Tiểu đoàn 105 ở Ba Lăng. Xe đang theo mép biển đi ra hướng chúng tôi. Lúc đầu nó chỉ là một chấm đen, trong thoáng chốc càng  lúc càng cáng rõ dần.

      -Xe đến rồi tụi bây ơi !

Có tiếng anh lính nào reo lên. Trung Sĩ Nhất 
Thỉu, Hạ Sĩ Quan tiếp tế đại đội, nhảy xuống xe. Anh Thỉu dáng khô khan, nước da ngâm đen, vừa phân phối thức ăn vừa nói lớn để mọi người cùng nghe:
   - Kỳ ni đồ ăn tươi là bính ngô và thịt heo thôi nghe!

Thức ăn tươi chia về từng tiểu đội độ nửa ký thịt heo và góc trái bí ngô, chỉ trong ngày đầu là hết sạch. Còn lại gồm hai ba lon thịt heo, thịt ngựa của quân nhu, thêm ít ruốc và 'vị tinh' ( bột ngọt). Mấy thứ này thì phải tiết kiệm, ăn làm sao cho đến giáp vòng tiếp tế khác. Gạo thì chia: cứ mỗi đầu người/ một ngày/ một ca ‘y-nốc’ (inoxidable) -


ca inox và bình nước nhựa 

 




ong Đầy- Gạt Sát" là gì?

Thưa bạn có hiểu bốn chữ trên chăng? Một ca inox này vun lên thì vun nhưng người phát gạo gạt bằng ngang miệng là khẩu phần ăn về gạo cho một người lính trong một ngày. Nó tương đương với 700 gram gạo chứ không có cân như tại chợ...

 Thế là xong, đơn giản lắm!

   -A! còn một ít thư cho anh em đây! 


   Tr. Sĩ Nhất Thỉu đưa thư xong, lo chuyển đồ cho BCH
   đại đội. 

  Giờ mới đến lúc chúng tôi lo chuyện "đổi chác" thùng 'phuy' cá, 
kết quả sau những đêm hốt cá từ mấy bàu nước lợ nói trên.  Sau khi "kỳ kèo- thêm bớt", Tr. Sĩ Thỉu chịu đổi thùng phuy cá với 2 ‘tút’ thuốc lá Bastos luxe. Chúng tôi chê  Bastos xanh hút không "phê".

   -Nhưng phải chờ kỳ tiếp tế sau mới có đó 

   nghe!


 Anh hứa với chúng tôi.
 

Gần cả Trung đội 3 lay hoay, hì hục... cuối cùng thùng cá nặng nề cũng lên được chiếc xe đang trống phía sau. Tôi thở phào nhẹ nhõmthà chịu thiệt một ít mà có thuốc chia nhau hút còn hơn ôm hết cá mà ăn thì chỉ có ngồi đây mà ngứa "gãi sưng" cả người thôi!

-Nhớ mấy tút thuốc nghe Trung Sĩ? chúc bồ mua may bán đắt, vào chợ Diên Sanh mà ‘thẩy’ (bán vứt) nó đi nghe?

  
Một vài anh lính đại đội đến kỳ về phép có dịp may nhảy lên đi 'ké' chiếc xe tiểu đoàn để về TKQT đang đồn trú tại Diên Sanh. Chiếc xe GMC chạy rồi tôi còn đứng nói vói theo. Lính xa nhà chia ngọt xẻ bùi, có nhau từng điếu thuốc, thân thiết như anh em, nhất là cùng mang thân phận làm lính sát cánh bên nhau trong thời chinh chiến. Tôi hơi tức cười khi nhớ lại lời nói ngắn gọn " kiểu nhà binh " khi chúng tôi nghe chung một chiểc radio bé nhỏ: 
-Mở cái đài -sang ngang !-không Thúy ...thì Tuyền!

Tôi cũng xin giải thích câu này cho rõ ý: lính chúng tôi muốn nói là "mở cái máy radio , sang băng không có Thanh Thúy thì Thanh Tuyền"
 Tôi cười một mình khi nhớ đến tiếng nói hồn nhiên chất phát của mấy người lính trẻ mới về đơn vị, vừa ngó theo bóng chiếc xe tiếp tế chạy xa dần, khuất hẳn trong màn gió cát vàng nhạt.

 Chúng tôi mang thức ăn vừa được tiếp tế về lại chốt. Lòng tôi như ấm lại khi nhìn mấy nửa trái  bí ngô trồng vừơn nhà ai trong Diên sanh. Miếng lá chuối còn xanh, gói miếng thịt của con heo nào đó  được nuôi lớn từ ruộng đồng Hải lăng.  Bao gạo đã vơi bớt. Vui nhất cho ai có thư nhà. Riêng tôi thì không, lính độc thân đúng nghĩa. Hôm nay Lợi, Phê. Sơn lo vá lại mấy mãng lưới rách đã từng bị chôn vùi trên bãi biển này. Tối nay chúng tôi sẽ đi kéo tôm tại mấy bàu nước lợ gần vị trí chúng tôi ở. Tôm thì tha hồ! chỉ đi dọc theo bàu cạn vét lên là có ngay mớ tôm nhảy long chong, lấp lánh dưới ánh trăng đêm.
  Một không gian hoang vắng tiếp nối  trên một thôn làng ven biển đã mất dấu từng có tên Vĩnh Huề Thôn. Chúng tôi có một thời gian đóng quân mạn biển đó để ban mai có dịp chiêm ngưỡng cảnh mặt trời lên huy hoàng trên mặt biển. Chiều về, chúng tôi lại còn có lúc ngắm ánh tà dương từ từ khuất dạng sau dãy Trường Sơn hướng tây. Rặng núi trên kia đang ngóng chờ những gót giày tiểu đoàn 105 chúng tôi nay mai trở lại.

    Ngoài kia biển một màu xanh ngắt, SÓNG BIỂN QUÊ HƯƠNG mãi còn vổ nhịp nhưng chẳng còn ai đứng đó. BIỂN MẶN như giọt mồ hôi của ngư dân những người đi xa chẳng hẹn ngày về. Người lính năm xưa có một lần đứng ngắm một vùng sóng nước mênh mông như đợi dân về - BIỂN NHỚ./.

NGƯỜI LÍNH NĂM XƯA VÀ KÝ ỨC VƯỜN TAO NGỘ

  VƯỜN TAO NGỘ VÀ MỘT THỜI TUỔI TRẺ MIỀN NAM Hôm nay ngày Chúa Nhật, vườn tao ngộ em đến thăm anh. Đường Quang Trung nắng đổ xa xôi Mà em đâ...