NGƯỜI LÍNH NĂM XƯA VÀ KÝ ỨC VƯỜN TAO NGỘ


 

VƯỜN TAO NGỘ VÀ MỘT THỜI TUỔI TRẺ MIỀN NAM


Hôm nay ngày Chúa Nhật, vườn tao ngộ em đến thăm anh.
Đường Quang Trung nắng đổ xa xôi
Mà em đâu có ngại khi tình yêu ngun ngút cao lên rồi.  ...
 (Vườn Tao Ngộ / nhạc sĩ Khánh Băng  )   

                                                                          ***







những người trai thời loạn xếp bút nghiên theo bước quân hành
                                                                        
Bạn đọc mến   


nhạc sĩ Khánh Băng (1935-2005)
 
Thả hồn suy tưởng về quá khứ, chắc hẳn chúng ta ai cũng đồng ý rằng ngày đó chỉ có tuổi trẻ miền nam mới từng nghe hay nhớ tới bài hát "Vườn Tao Ngộ" của nhạc sĩ Khánh Băng (bút hiệu Nhật Hà). Chúng ta không khỏi xúc động khi nghe lại thanh âm từ những lời ca mộc mạc chân tình, thẫm đượm tình nước tình người thế kia. 
Ôi mấy mươi năm qua rồi, một nửa thế kỷ thế mà bạn và tôi tưởng chừng như mới hôm qua. 
 Bao hình ảnh cũ vùn vụt qua nhanh như những khúc phim quay ngược. Giá như chúng ta có được phép mầu nào đó, trốn chạy được những dấu ấn thời gian cay nghiệt; rồi cùng nhau trở về được những ngày tuổi trẻ, hào hùng và tràn ngập nhựa sống thương nước, yêu đời.

lá thư từ KBC 4091 Quang Trung

    Một thời tuổi trẻ - đó là những lớp thanh niên tiếp bước nhau lên đường, bỏ lại đằng sau bao ước mơ hoa gấm, chấp nhận tiếng gọi của non sông.


    Vườn Tao Ngộ không chỉ riêng ai, đông lắm, một thời chiến chinh- bao chàng trai gác bút nghiên, ra đi theo bước quân hành.
   Thật vậy, thanh âm và nội dung bản nhạc đưa mình về những ngày đầu Quang Trung với bao cảm giác bỡ ngỡ, lạ lùng xen lẫn lo âu. Những toán thanh niên mới hôm qua, chia tay cùng áo trắng học trò hay nói chung là đời dân sự để bắt đầu vào đây ngưỡng cửa "Nhà Binh". Những mối tình, những hẹn ước với người tình vừa mới chớm mộng yêu đương nay đành gác lại, lên đường theo tiếng gọi của non sông.  Quê hương khói lửa ngập tràn, bên nợ nước bên tình nhà chắc nàng cũng hiểu. 
     Những đêm đầu Quang Trung, nơi quân trường thử thách. Nhiều nỗi nhớ em nhưng anh đành gác lại, chỉ mong có lá thư nàng. Ấm nồng tình cảm và an ủi biết bao, đó là lá thư đầu tiên do nàng gửi đến cho chàng tiếp sau  ba chữ KBC 4091...
Nếu chúng mình ước hẹn, ngày tao ngộ xa quá anh ơi!
Thời gian xin lắng đọng đợi chờ.
Để đôi tim ước mộng đem tình thương tô thắm đôi môi hồng.
Đây một phong thư xanh, trao đến người,
để quên đi những đêm quân trường,
sầu cô đơn hiu quạnh, vùi đầu bên chén trà tìm đọc thư em...


                                            











NHỮNG LỨA TUỔI XANH từng BĂNG MÌNH QUA VƯỜN TAO NGỘ, để lại đây dấu ấn của hiến dâng hay ra đi khi Tổ Quốc Lên Tiếng Gọi 


*
   Có lẽ ai cũng có chung ý nghĩ hay tâm sự giống nhau, đó là tâm lý lạ lùng ngày đầu làm quen đời lính.  

    Những hồi còi chói tai, những tiếng chân chạy rầm rập, vội vàng. Xếp hàng, tập họp, điểm danh trước những căn nhà dài lê thê. Nếp sống tập thể bắt đầu. Phải làm quen với những tiếng tiểu đội, trung đội, đại đội.v.v.
    Thật vậy, cả một 'bước ngoặc cuộc đời' bắt đầu...

    Lạ lẫm, nhớ nhung trong tôi tăng gấp bội. Bao lo lắng hay tâm sự riêng tư của thanh niên từ miền trung khô cằn sỏi đá ngoài kia vào đây cũng 'nhân đôi' khi so sánh với  những anh chàng quê ở gần Sài Gòn. 

     Mùa hè  Đỏ Lửa 1972, một mùa đi đầy tang thương, đau khổ. Tội cho dân mình, người Quảng Trị từ đó phải ra đi, phải xa quê hương chẳng hẹn ngày về. Số bị kẹt đã đành, nhưng rất đông người lìa xa quê hương bản quán đành cam chịu kiếp sống tạm cư tại Đà Nẵng. Chiến tranh tiếp nối chiến tranh bao người lưu linh về phương nam tìm đất sống...

Nhà tôi "sống nhờ- ở tạm" tại Thị Xã Mỹ Tho. Ai giờ đây chỉ còn hai bàn tay trắng, vốn liếng của cải chẳng còn. Người viết có ghi lại ít nhiều tâm sự  khi mới tới tỉnh Định Tường, thành phố đón nhận chúng tôi, ngày đầu xa lạ.

*


Rồi những đứa bạn mới quen hai ba hôm nay, ngày đầu nghiệp lính. Chúng tôi cùng nhau đi nhận quân trang. Những bộ áo quần lính màu ô liu, đậm, nhạt bận vội vào người, có lúc lại rộng thùng thình.  Cái mũ lưỡi trai nhà binh, lần đầu tiên đội vội lên đầu, thấy lạ. Làm sao quên, hai đôi giày bố đen cái mang cái móc vào ba lô.  Tôi vẫn nhớ hình ảnh cái bao quân trang dài, cứ tưởng tượng nó như thu được 'cả bầu trời' vào được trong đó, chẳng khác chi trong truyện thần thoại thời con nít, tôi đọc không bằng?

   một câu lạc bộ tại Trung Tâm Huấn Luyện  Quang Trung 

                2 kỷ vật đời lính 

    Còn gì để nhớ trước khi được chuyển qua TTHL Quang Trung? Quân trang phần nhiều chúng tôi được nhận tại cái trại tiếp nhận sát nách Quang Trung, đó là Trung Tâm 3 Tuyển Mộ  Nhập Ngũ. Tôi khó quên hình ảnh cái ca uống nước i-nốc, cái bi đông đựng nước, cái ga men để nhận phần cơm...




    Thôi rồi, mái tóc bồng bềnh đen nhánh của tuổi học trò nay cũng bị cắt ngắn đi từ đó! 
Cuối hết tôi xin kể ra một chuyện cần nhớ, cần phải mang nó theo suốt đời lính, đó là chuyện SỐ QUÂN. Sau khi nhận số quân, có một vị sĩ quan tại TTHL Quang Trung có nói một câu khiến tôi nhớ mãi:

"Từ nay số quân này sẽ theo các anh cho đến lúc chết. Phải nhớ loại máu các anh là gì? Số Quân và Loại Máu có trong thẻ bài, phải luôn đeo vào cổ, nhớ đó!"


Từ đó, Quang Trung "nắng cháy da người" và những màn phạt nhà binh nhớ đời hay trách nhiệm 'chà láng' tức là thoa vuốt bằng bùn lên bờ giao thông hào, công sự chiến đấu cá nhân trong trại phải thật láng, nếu không đẹp thì bị ghi phạt! Còn nhiều thứ để nhớ làm sao? Những cơn thèm ngủ, những giờ ăn eo hẹp chỉ mười mấy phút, thức ăn thiếu thốn, và sau hết là đồng lương tân binh ít ỏi...

    Đời lính phải tập luyện, dạn dày cực khổ, thiếu thốn gian lao. Còn nhiều thứ để huấn luyện cho những tân binh, cho những ngày mịt mù phía trước. Khói lửa chiến tranh còn tàn phá quê hương, bao tiếng khóc dân mình còn ai oán ngày đêm...


VƯỜN TAO NGỘ



Viết sao cho hết bao cảm giác bồi hồi xúc động khi được kêu tên ra thăm thân nhân. Vườn Tao Ngộ là tiếng gọi thân yêu, nơi thăm viếng dành người nhà của những anh lính mới dành cho các tân khoá sinh tại Trung Tâm Huấn Luyện vào ngày cuối tuần. Ai có qua đó thì khó lòng quên cái tên Vườn Tao Ngộ, một dấu ấn hay kỷ niệm đầy thương cảm năm nào.

 Anh tân binh còn nằm thừ người đợi chờ chợt ngồi bật dậy khi trật tự viên chạy vào:
 
    -Danh số 151 có người nhà tới thăm!


"Người Nhà Tới Thăm" đồng nghĩa là anh tân khóa sinh sẽ bận bộ đồ lính sạch nhất, cầm vội theo những thứ gửi lại nhà như bộ áo quần dân sự, giày dân sự hay những thứ đời lính không cần rồi chạy ù theo người trực đại đội vừa kêu tên mình...

    Cổng Tao Ngộ kia rồi, thời gian quý báu làm sao! Bên ngoài cổng trên bãi cỏ là những poncho trải vội. Đôi ba cặp tình nhân nói chuyện cùng ăn uống với nhau. Giờ hình dung lại, bài hát sao chân thật quá như gom lại tất cả  hình ảnh đáng nhớ ngày qua!


    Những người tình cho anh tân binh ngày đó có thể tận Cà Mâu, Lục Tỉnh nhưng nỗi nhớ nhung đã gạt phăng tất cả. Anh tân binh mới vào đời lính, chỉ vài tháng xa nhau mà cảm thấy lâu như cả 'chục năm'?

    Có ông bà già nào đó từ miệt vườn lên thăm con. Hai ông bà đang ngồi với đứa con trai. Quà cáp bới lên chắc hẳn còn thơm mùi lúa chín, mùi mãng cầu xiêm hay vài bịt mận chín mọng ngọt ngào. Hai bàn tay nhăn nheo ông bà già rờ mãi vào vai cậu con trai. Nhìn nước da xạm nắng của con hai người lắc đầu ái ngại. 

    Hai ông bà  từ miệt vườn lên thăm con cũng là hình ảnh ba mẹ tôi lặn lội từ Mỹ Tho lên thăm, an ủi con những ngày đầu quân ngũ. 

    Mùa hè 1972, Gia đình tôi  trôi dạt vào Mỹ Tho. Giờ đây chỉ còn hai bàn tay trắng, vốn liếng của cải chẳng còn chi.  Tôi không quên con đường Hùng Vương cùng hai hàng me cổ thụ, Vườn Hoa Lạc Hồng bên giòng Cửu Long bốn mùa lao xao sóng nước cùng ăm ắp phù sa hay tấp nập thuyền bè.  Rồi các em tôi lại bỡ ngỡ làm quen cùng trường học mới nhưng trọ trẹ tiếng trung? Nơi  xứ lạ quê người dần quen cuộc sống cũng là lúc tôi cất bước xa nhà. 



Bãi Tập Quang Trung 1/1973 hình tác giả 

đến tuổi về chiều tôi còn nhớ ngày xưa: Danh Số 151 Tiểu Đoàn Phan Đình Phùng, trại Võ Tánh Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung
SQ: 73/008310 


Đất nước chiến tranh, bao lớp người trai lần lượt ra đi. Vườn Tao Ngộ ngày đó chứng kiến những phút giây tao ngộ trùng phùng, cảm động, thiết tha và lại hiếm hoi khi gặp nhau chỉ ngần ấy thôi! Rồi cha mẹ cũng phải chia tay con ra về,  người tình cũng phải ra về, để lại những người trai tiếp tục con đường tập huấn, nắng mưa thao trường. 







đỉnh Hòn Khô-NGÀY GẮN ALPHA  8/1973 TRƯỜNG ĐỐNG ĐẾ NHA TRANG (hình tác giả) 



Tiếng nói cùng tiếng cười, giờ tao ngộ lưu luyến bên nhau.
Mừng vui chưa nói được cạn lời,
Giờ chia tay não nề ngại ngùng thay chân bước đi không đành.
Vui đời trai phong sương,
Vai gánh nặng tình non sông bước chân miệt mài.
Dù núi biếc sông dài, dù trời cao đất lạ đừng buồn nghe anh 


    Những ngày Chủ Nhật qua nhanh. Vườn Tao Ngộ của "Quang Trung nắng cháy da người" tiếp tục đợi chờ. Những lớp  người trai lên đường nhập ngũ khi quê hương lên tiếng gọi. Lá cây bàng ngoài cổng trại Quang Trung tiếp tục la đà rơi theo chiều gió. Không biết bao nhiêu lần, những chiếc xe lambro, lambretta, daishu... quen thuộc, lần lượt mang người thân tới Vườn Tao Ngộ. Sau những phút tâm tình hiếm hoi, xe sẽ rồ máy chở những người thân của lính tạm biệt khu vườn thân yêu đó. Sẽ có những lần tao ngộ cho các khóa đàn em nối tiếp... nhiều lớp trai miền nam sẽ tiếp tục đi vào quân trường Quang Trung rồi tiếp tục chia tay, tỏa đi phục vụ khắp bốn vùng chiến thuật./.



Đinh trọng Phúc 


MỘT KHOẢNG TRỜI XANH CHO TÔI NGỒI NHỚ MỘT THÁNG TƯ









   Lặng  ngồi vườn sau, tôi chăm chú cố tình ngước nhìn lên bầu trời xanh cao chợt thấy tâm hồn lâng lâng thật lạ?


Vẫn biết đây là bầu trời xứ Mỹ, nhưng nếu tôi không nói thì khó ai biết được? Trời là trời, nơi nào mà chẳng giống nhau. Tôi cứ thả hồn bay bỗng, cứ cho trên kia là bầu trời quê hương. Ngẩng đầu lên để ngắm một màu thanh thiên bất tử.  Trong khoảnh khắc, tôi đưa trí tưởng tượng về phương trời xa xưa nào đó...


MỘT KHOẢNG TRỜI XANH TRÊN CAO 


Ngày đó khi hạ về, có những ngày trời trong xanh, không một dáng mây. Mấy mươi năm sau, nửa đời người sau bầu trời này chẳng gì khác biệt. Hay trời hôm nay không một cánh chim hay một cụm mây la đà bay về tận chân trời góc biển nào đó.


Bầu trời trong xanh là cả một không gian vô tận, không còn biên giới cho tầm mắt. Từ ngày  bé dại cho đến khi tuổi xế chiều hay  mãi mãi sau này tôi tin nó là màu xanh bất diệt. Nắng tháng Tư về, dưới khoảng trời trong vắt, tôi tưởng tượng như có phép mầu thu mọi sự kiện từ khoảng cách tới thời gian về một điểm chung không còn ranh giới giữa xa-gần, xưa-nay, già-trẻ. Bầu trời xanh bất tận kia  bao hàm sự tự do tuyệt đối. Làn sóng phóng đãng của tư duy cùng trí tưởng tượng sẽ thắng được mọi cánh chim trời. Do loài chim dù tự do bay nhưng vẫn có ngày rã cánh. Đám mây trời nào mà tránh được tan loãng sau một hành trình la đà thênh thang?


Trí tưởng tượng của tôi chợt lan man, đầu tiên có một đoạn của bài thơ CHIỀU của thi sĩ Hồ Dzếnh:


Trên đường về nhớ đầy

Chiều chậm đưa chân ngày

Tiếng buồn vang trong mây

Chim rừng quên cất cánh

Gió say tình ngây ngây...


Tôi nhớ lõm bõm chỉ ngần ấy thôi trong bài CHIỀU của người thi sĩ. Chỉ vài câu nhưng lại có những cái đích của sự vật như con đường, cánh rừng, hay cánh chim và đám mây để người thi sĩ năm xưa đặt nỗi nhớ vào đó. Đúng thật, những sự vật gần gũi cho ta đặt niềm nhớ nhưng vào đó thật dễ dàng và rất nhạy cảm cho những tâm hồn hữu tình cùng thi vị. Ngày xưa người thi sĩ đã buồn nhờ vào một cảnh chiều trước mắt người lãng tử và bước chân phiêu du. Có thể cảnh chiều buồn đã giục chân viễn khách bước nhanh trên đường về cố quận.  Riêng mình tôi hôm nay chỉ được cái tự do là ngắm lên một bầu trời xanh để cố tìm, lục lọi trong quá khứ xa xưa có những khoảng trời xanh bao la bất tận của ngày xưa? Một ngày xưa tôi chỉ có vài lúc ở chốn núi rừng làm bạn với chim muông cây cỏ và có một bầu trời trong xanh những lúc trời quang mây tạnh.  Chỉ có cái khác với bài thơ  CHIỀU do hiện tại có nhiều lớp người cùng hoàn cảnh giống tôi, đường về cố quận chắc sẽ gập ghềnh vách núi, nói trắng ra là không còn nữa.


*

Qua đám lá mới thay mang màu huyết dụ, đỏ bầm của cây plum, một khoảng trời cao cho tôi ngồi đây để có vài ấn tượng hay suy nghĩ bâng quơ. Nếu trong khoảng trời xanh hôm nay, có đám mây nào đó đang thênh thang bay,  tôi có thể định nghĩa cho một tự do nào đó.


Bầu trời hôm nay rất quen, quen từ thuở nào ... có thể là thời lính chiến khi nhiều lứa trai như tôi cùng khoác màu áo trận. Lúc đó nói đúng ra là đúng nửa thế kỷ trước chúng tôi những người lính hay nghêu ngao hát.

 chỉ có đất là lạ, là điểm cho tôi biết sự khác nhau về nơi chốn xa và gần, quê mình và quê người. Tôi nhớ lời bài hát năm xưa- thời thanh niên, đúng ra là đời lính chiến...


Tôi ở miền xa,
Trời quen đất lạ
Nhiều đông lắm hạ,
Nối tiếp đi qua
Thiếu bóng đàn bà, ..(KẺ Ở MIỀN XA/ TRÚC PHƯƠNG)




Ngày đó, chuyện xa...dù sao cũng là tương đối. "Trời Quen Đất Lạ" cũng tương đối. Đó là khoảng cách giữa Tiền tuyến-Hậu Phương. Chỉ xa nhau ngần ấy thôi trong vài mươi cây số nhưng người lính chiến đã cảm nhận quay quắt sự trống vắng, thèm khát cùng nỗi nhớ ngất ngây và ước ao cháy bỏng...

Xin đối diện một lần bên tôi
Cho tôi yêu bằng hình hài đó không thôi
Đến với tôi, hãy đến với tôi
Đừng yêu lính bằng lời


 
 Đúng năm mươi năm qua kể từ ngày ra đơn vị, lại một lần nữa tôi có cơ hội ngước nhìn lên bầu trời cao và trong xanh và kỷ niệm một thời trai trẻ hiện về. Tuổi già ập đến nhưng tôi còn mừng do tâm trí giúp tôi biết sự khác nhau về nơi chốn, xa và gầnquê mình và quê người.  Bao "Kẻ Ở Miền Xa" trong một bài hát hay tâm sự cho bao lứa thanh niên, đúng ra là đời lính chiến thường nghe cùng lẩm nhẩm đến thuộc lòng. Bài hát đó hay thân phận làm trai, ra đi, chiến đấu, cuối cùng ngày chịu đựng một thiệt thòi thua cuộc cùng số phận  đất nước tang thương. 

Rồi nửa đời người qua nhanh. Bạn và tôi cùng bao biến đổi cuộc đời, xao xác cảnh biển dâu như sóng ba đào ập vào ghềnh đá rồi biển cũng lặng sóng êm, nhưng thời gian của năm thập niên, nửa cuộc đời, phù du như giấc ngủ ban trưa. Tôi lại nghĩ phải tự an ủi cho mình do tôi còn diễm phúc ngồi đây để ngắm một bầu trời thật xanh, quảng khoát và thật sự tự do. Trên cao kia là một sắc màu tuyệt đối nhưng chẳng có gì, sự vô vi mà giải thích của con người chẳng còn ý nghĩa.  Có thể đó là sự vô tận của vũ trụ, một thứ mà thời gian chẳng là gì cả. Một bầu trời xanh không là quá khứ và chẳng là tương lai, nơi sinh diệt, hơn thua, thắng bại, sướng khổ, nhục vinh ...tuyệt  đối chẳng có ý nghĩa nào.  Một vũ trụ đi mãi đến vô cùng, nơi tư duy của  con người nhỏ bé như tôi hôm nay vĩnh viễn chẳng bao giờ với được ./.

 

ĐHL

 NHỚ VỀ MỘT THÁNG TƯ

TÙ ĐI KIẾM CÁ


Nhớ Thượng Sĩ Trầm -Trại 4 Ái Tử 


Chào bạn đọc

Thật ra không biết tại sao hồi đó lúc ở tù cải tạo tại Trại 4 Ái Tử, chúng tôi gọi là đi "SỤC CÁ"?! tai người viết nghe sao nói vậy. Theo suy đoán có thể tiếng gọi "THỤT CÁ" cũng nên? Cũng có thể từ là tiếng "SỤC Cá" cũng nên?

 

Nhưng tại sao mấy người trong lán hai khối 4 chúng tôi gọi là "Sục" cá? Chuyện này khó trả lời? Dù sao vẫn còn một số người như Trần đình Côn người Gio Linh vừa qua Mỹ diện HO đợt cuối cùng sau này làm chứng cho tiếng "Sục".  Côn là tổ trưởng, may mắn qua được Mỹ. Còn Lán Trưởng Nguyễn danh Huấn cũng là người Gio Linh (làng Xuân Mỵ), sau ngày ra tù, sinh sống tại Suối Nghệ thì không may, anh vì bệnh tật nên qua đời sớm. Còn một người ngang lứa ngang cấp là Nguyễn Sở người Vĩnh Lại thì bặt vô âm tín bao lâu nay? Nhưng có một nhân vật già hơn, thế hệ tiền bối, tuổi ngang ba mẹ chúng tôi, đó là Thượng Sĩ Trầm (tôi quên họ) thì nay người viết đoán có thể không còn trên cõi thế gian này nữa?


Người viết xin vào câu chuyện kể để nhớ lại một thời tạm gọi là "hàn vi" trong trại tù cải tạo số 4 Ái tử khoảng cuối 1975...


bụi cây lá ngấy


    Bác Trầm người tù già nhất Lán 4 đang ngồi nhả khói. Điếu thuốc to tướng vấn bằng giấy báo. Thuốc bên trong chẳng phải là thuốc rê hay cẩm lệ nhưng làm từ lá cây lá ngấy- loại dây leo nấu nước uống khá lành. Túng quá, thuốc rê gia đình thăm nuôi đã hết từ lâu. Làng Vĩnh Lại bên kia con sông Thạch Hãn nhưng giờ đây xem như là "diệu vợi" đối với ông Trầm. Ngang đây tôi phải nhắc lại một chuẩn úy già, nhưng tôi khá ân hận đã quên mất tên của bác đó và mấy tuần sau người viết nằm ngủ mới nhớ lại tên bác, vội ngồi dậy viết lại tên bác. Bác đó tên là NHÂN! Đúng rồi Chuẩn Úy Nhân. Người thấp ốm, dáng khắc khổ làm sao? Bác Nhân thường tâm sự do cái tội "bị lên chức Chuẩn Úy"  và thế là bác bị  "liệt vào diện sĩ quan" ... địa phương dưới kia gửi lên trại 4 "cải tạo". Thật là tội cho bác. Người kể chuyện nhớ làm sao dáng đi lom khom, lưng hơi còng và ốm o của một người chuẩn úy già bị đi tù "cải tạo" khá oan do cái tội "lên chức". Chính bác từng tâm sự với tôi cái oan nhất là chỉ "lên lon mấy ngày" thì chuyện 30 tháng Tư ập đến?.  Tác giả nhắc đến ông chuẩn úy cùng ông thượng sĩ già do một kỷ niệm khó quên là chính hai người đã "CHẾ" ra thứ thuốc hút từ lá "ngấy khô" từng giúp chúng tôi qua cơn thèm thuốc...


    Như vậy hai bác, một chuẩn úy vừa lên một thượng sĩ thâm niên là hai bác ở tù  lớn tuổi nhất trong lán, kể cả toàn khối 4 chúng tôi. Toàn bộ người trong lán phần nhiều là trung đội trưởng, chuẩn úy mới ra trường "trẻ măng". Chúng tôi không bảo nhau nhưng ai nấy đều xem hai bác là hai người cha già. Bác Trầm tuy là thượng sĩ nhưng là thượng sĩ thâm niên công vụ,  thế là đối với làng, Bác vẫn bị đem lên đây với hai tiếng là "học tập". 


Gần bác Trầm nhất là Sở và tôi. Khi nhắc tên mạ tôi, bác Trầm biết mạ tôi thời trước. Còn Nguyễn văn Sở lạ lắm, hắn nói rất nhanh, khó nghe kịp. Một lần đi rừng, thằng Sở lại là đứa đi nhanh nhất, lúc nào cũng dẫn đầu toán.


dép lốp bộ đội một thời người QT gọi là dép Bình Trị Thiên dành cho bộ đội VC nhưng sau này phát cho tù tại Ái Tử để đi rừng hay đi lao động ngoài bắc



 Bước chân thằng Sở mỗi lần lên rừng chặt gỗ, hắn đi thoăn thoắt phải gắng đuổi theo mới kịp. Mỗi lần đôi dép lốp kiểu bộ đội của Sở bị trật quai, hắn liền ngồi xuống xâu lại. Cái nẹp nhọn lép, xỏ qua khe hẹp của lỗ dép. Hai hàm răng của Sở mạnh như hai mũi kìm cắn chặt vào đầu cái nẹp nhọn, một đầu có kẹp một phần sợi dây quai cao su kia. Thế rồi hai bàn tay rắn chắc mạnh bạo cầm thân dẹp kéo ngược lại phía dưới để xỏ sợi quai dép lại như cũ...bạn đọc để ý lỗ cho sợi dây cao su luồn qua không phải dễ xỏ? nếu rộng lỗ để xỏ dễ dàng thì làm sao dây dép tự giữ chặt được mà đi? Người kể chuyện có chút lan man qua đôi dép "Bình Trị Thiên" của mấy ông VC hồi đó do có bạn đọc không hiểu cách xỏ quai dép của bộ đội VC ra sao đó thôi. Nói thì chậm, ngược lại Sở làm rất thạo và nhanh, tôi khó lòng bắt chước.  Sở bước theo toán đi rừng lẹ làm sao? chút chi hắn lại tiến lên trước chúng tôi. Thời gian đó, không riêng gì Sở, chúng tôi đều được phát dép lốp đi rừng. Chỉ có các trại ở Ái Tử mới nhớ cái tên đó là "dép Bình Trị Thiên". Sở hơn chúng tôi nhờ tài xâu lại quai dép, không ai làm nhanh hơn hắn. Đường mùa mưa trơn trợt dép lốp trật quai lia lịa. Đoạn đường lên rừng hay từ rừng về mùa mưa, có khi chúng tôi phải ba bốn lần xâu lại quai dép. 



 
TÙ VÀ KHÓI THUỐC LÀ BẠN CHÍ CỐT CHÍ TÌNH

    Ngày nghỉ cuối tuần như hôm nay bác Trầm hay kể chuyện ngày xưa cho chúng tôi nghe. Mồng Hai tháng Chín 1975 qua rồi. Đó là cái lễ đầu tiên trong tù, về thuốc hút lại có một ít "tiêu chuẩn" người kể chuyện còn nhớ. 

    Mỗi người được nửa gói thuốc lá Tam Đảo 10 điếu, nửa gói thuốc lào Thống Nhất ...(đường viên Trung Hoa 100 viên vuông tức là nửa hộp, 1 bộ áo quần tù sọc đà, một vá thịt heo kho trong ngày 2/9 khi hạ heo ...) Có tiết kiệm chi rồi cũng hết từ lâu. Ông Trầm là người hút thuốc lá nặng.  Thuốc vấn, cẩm lệ cuối cùng là thuốc rê những thứ ông có trong dịp người nhà lên thăm tù sau này mới đủ cho ông "phê". Nhưng đào đâu ra lúc này lúc mọi thứ đã cạn sạch.  Hút thuốc Lào là phương tiện chính cho những ai ghiền thuốc.  Tôi lại miên man chuyện cái ống thuốc Lào tức là điếu cày. Đã kể thì phải nhắc lại cái "nõ điếu" cày, tức là phần gắn vào ống thuốc để ta bỏ "bi" (bi tạm gọi là viên thuốc sau khi ta vo tròn lại) thuốc vào đó. Chủ nhân cái ống phải tìm cho ra gốc sim để đẽo cho ra cái nõ. Gỗ sim mới không bị nứt nẻ. Ngày cuối tuần là lúc rảnh rang để mấy đứa bạn mân mê gọt dũa cái nõ bằng gỗ sim. Toàn trại, nói chung tất cả người tù đều hút thuốc Lào. Những lúc toàn lán cạn thuốc, thật khó quên cả mấy anh em chia nhau một "bi" thuốc cuối cùng. Người đầu kéo một chút, người thứ hai kéo một phần tư, hay ít hơn...cho đến người bạn cuối cùng rít hết chút khói còn lại trong ống. Anh chàng sau cùng kéo cho tận hết làn hơi cuối còn lại trong cái ống lại phân bua:

            -Thập toàn đại bổ!!!

THẬP TOÀN ĐẠI BỔ LÀ GÌ VẬY ?


    Người bạn tù cuối vừa hút hết hơi thuốc Lào cuối dùng 4 chữ trong bài thuốc Đông Y nào đó, vừa hài hước vừa bào chữa cho sự tận dụng hay "bòn mót"  làn khói cuối.


    Nhớ hình ảnh cái "điếu cày" thì tôi khó quên bao đốt tre giang trên rừng, quả là ích lợi cho tù. Từ lạt buộc, đan đát cho đến cái ống thuốc Lào mỗi lần hút, tiếng nghe "phùm phụp", đó là âm thanh đặc trưng kèm theo mùi thuốc khó quên. Người tù thời đó tôn xưng, Thuốc Lào là "thượng đế" chứ? do khi ta hút tiếp liền là cảm giác "bị phê". Không phê thì chưa biết thuốc Lào là gì? Tôi nhớ hình ảnh thằng Thu trong lán. Tuy Thu to con, cao lớn, nhưng bữa sáng bụng đói, Thu rít một hơi liền bị phê thuốc ngay. Thu say thuốc Lào rõ nặng. Người hắn lảo đảo, ngã xuống nghe tiếng "rầm"! may mà không sao, nhờ có bạn bè. (Sau này qua Mỹ khi tham dự Đại Hội Đồng Hương QT tại Boston vào năm 2013 người viết có gặp Thu một lần).

    Bác Trầm là dân chuyên vấn cẩm lệ và thuốc rê thứ thiệt, nhưng rồi cũng bắt đầu mê cái ống thuốc lào. Thật ra, cuối hết chẳng ai còn có chọn lựa nào ngoài thuốc Lào. Khi hết thuốc nhà bới lên, Bác "có còn hơn không" không ai chê chuyện mê hay ghiền thuốc Lào vào lúc đó cả. Những lúc chia nhau từng ngụm khói từ một "bi" thuốc hỏn hon, còn lại hay những lúc phải vấn lá ngấy khô thay thuốc thật mới biết người tù cần hơi khói thuốc chừng nào. Tù cần thuốc, cần "phê" để quên đi thực tại đó là những cảm giác thiếu đói, thèm khát mọi thứ, khó lòng kể cho hết...


ĐI SỤC CÁ 

    Một ngày vào cuối tuần, như chợt khám phá  một điều thú vị, ông gọi giật phắc tôi:

-MI ĐI SỤT CÁ KHÔNG Phúc! ?

-DẠ ĐI CHỚ. 

-KÊU THẰNG SỞ ĐI VỚI.

     Bác không quên thằng Sở do hắn cũng là người cùng làng Vĩnh Lại hơn nữa tất cả ba người đều cùng tổ với nhau. Trần đình Côn dĩ nhiên không ai dám kêu hắn đi sợ liên lụy...


    Những ngày ở trại 4 khoảng gần cuối năm 1975, thời gian đầu Bộ Đội miền Bắc còn cai quản tù binh chúng tôi không khắc nghiệt như khi bị trao qua Công An "quản lý" như sau này.  Vòng rào lỏng lẻo, cuối tuần chúng tôi còn đi "cải thiện linh tinh" kiếm chút gì giúp cho bao tử. Chỉ có đêm về là lo có mặt là được. Nguyễn văn Sở và người viết đồng ý ngay với ý kiến chợt nảy sinh của ông. Cuối tuần, không có gì chỉ ngồi thèm thuốc đến chết người thôi. Ngoài kia là căn nhà thăm nuôi , Trại mới xây xong, vắng ngắt giữa cảnh núi đồi hiu quạnh. Đến kỳ thăm nuôi, căn nhà vãng lai đó mới vui hơn một ít. Người nhà của tù về rồi, sẽ trả lại quang cảnh vắng ngắt như mọi ngày.


    Thời gian đầu, lúc bộ đội coi tù Trại chẳng có cổng gác. Mà chẳng cần ai gác do chưa có vụ trốn trại nào. Cái hàng rào kẻm gai lưa thưa cho có. Thời gian này rất lạ, ở trên nhà cán bộ chẳng ai lo chuyện tù trốn cả. Trần đình Côn, hắn là toán trưởng có ba hắn nghe đâu đi bộ đội tập kết có quen trại trưởng Trại 4 tên Thú. Đúng vậy, có một ngày ai đó chỉ cho người viết  hình ảnh một người bộ đội già tay dắt một chiếc xe đạp giàng đi ngoài hàng rào. Ông ta tiến đến hướng khu nhà cán bộ. Ông là cha của Trần đình Côn tổ trưởng trong lán. Ông đi tập kết về lại QT ông tới thăm thằng con trai trong tù. Ông là bạn ông Thú trại trưởng cùng bộ đội lâu năm. Có cha đi tập kết, cũng như nhiều người khác, chuyện Côn về sớm hơn chúng tôi là lẽ thường. 

    Lán trưởng (nhà trưởng, mỗi khối có 4 nhà) chúng tôi là anh Nguyễn danh Huấn người Gio Linh. Mỗi lán có nhiều tổ. Mỗi khối có nhiều lán. Lán tức là cái nhà tranh lớn chứa mấy chục người tù. Còn khối có bốn lán như vậy. Tôi còn nhớ nụ cười hiền hòa của anh Huấn. Người anh điềm đạm, ít khi cáu gắt với ai. Đêm đêm vừa kéo hơi thuốc lào vừa kể chuyện đơn vị thuộc Sư Đoàn 23 trước ngày "TAN HÀNG...CỐ GẮNG".  Anh chỉ là trung đội trưởng, rồi chuyện về lại địa phương...Làng Xuân Mị, Gio Linh quê anh. Khi người sĩ quan trẻ đó trở về phải nhọc nhằn đối phó với sự kỳ thị của địa phương. Anh Huấn kể lại có những đêm HỌP DÂN hay đội đoàn, anh phải đối phó với bao hằn học, gay gắt. Trước đội đoàn hợp tác tại quê anh với lời kể lại chất chứa bao cay đắng do anh phải QUỲ mỗi lần Hợp Tác hay Đội họp.  Lên được trại 4, tuy là tù nhưng anh Huấn cảm thấy thoải mái hơn ở địa phương nhiều. Nguyễn danh Huấn, Trần Côn đều về trước tôi. Hai người đều về Sơn Mỹ Hàm tân trong thời gian đầu ra trại. Tội cho anh Huấn mất sớm ở Suối Nghệ nên không đi Mỹ được. Phần Côn lận đận từ vùng kinh tế mới này hay lao đao đi tìm nông trường nọ cuối cùng Côn cũng may mắn sang được Mỹ trong các đợt H.O. gọi là "nạo vét" sau cùng. 


***


đầu đạn pháo binh 105 mm cũ


    Bác Trầm dẫn thằng Sở và tôi đi ra khỏi trại bằng hướng khác do sợ cán bộ thấy. Ngày nghỉ cuối tuần chẳng ai có việc. Thời gian này còn "dễ thở", T chẳng có vệ binh (bộ đội) nào canh chừng vào ngày nghỉ cuối tuần. Thế nhưng chẳng nghe ai trốn trại? Có thể  ai cũng hi vọng bị giam sau một thời gian "ngắn" để được về nhà?


 Ba người chúng tôi lầm lũi, đi tắt qua hướng Nại Cửu Phường, nhắm ra hướng phía chùa Sắc Tứ và Căn Cứ Ái Tử cũ...


    Một vùng đồi núi càn, lau lách rậm rạp. Quang cảnh một vùng hoang vu không có bóng người ngoại trừ mấy trại tù vừa mới lập. Mấy con đường đất đỏ ngày trước chưa mất dấu. Cây leo và bụi rậm chưa phủ hết xác mấy chiến xa của mặt trận vừa qua. Căn cứ Ái Tử chỉ còn là những tấm ri sắt cong queo bị xé toạc bởi đạn pháo. Những hầm chứa đầu đạn 105 ly và 155 ly bị nổ tung rơi vải tung tóe. Ông Trầm bảo Sở và tôi kiếm 2 đầu đạn 105 ly chưa bắn rồi vác theo ông. Cả ba người lầm lũi bước về lại hướng núi nơi có rất nhiều hố bom B 52 giờ đã trở thành những cái hồ nho nhỏ. Vác hai đầu đạn không chưa hề có ngòi nổ nên không thể nổ được. Tới mấy cái hố bom rồi, bảo chúng tôi dừng lại. 

    Cái que sắt khá nặng có một đầu nhọn do thằng Sở vác theo, không ngờ giờ đây mới bắt đầu có ích. Ôi Cái cảnh "điếc không sợ súng" là giây phút đó. Liên tục đâm cái đầu sắt nhọn vào phẩn miệng quả đạn thật quả là chuyện liều. Không liều làm sao có cá ăn. Do đây là cơ hội "cải thiện" mà đã là tù thì làm gì còn chuyện sợ chết. Đã "cùi thì không sợ Lở" ý nghĩa cuối cùng là liều.  Thật ra theo kinh nghiệm pháo binh, chỉ có đầu nổ gắn vào mới làm cho đầu đạn có sức nổ được. Theo lệnh ông Trầm hai đứa chúng tôi thay phiên nhau dùng cái que sắt nặng đó liên tục đục vào lỗ đầu quả đạn pháo vị trí sẽ gắn đầu nổ nếu như quả đạn sắp được bắn đi. Sở và tôi, bậm môi nghiến răng liên tục thụt cái đầu nhọn que sắt dần hồi khai thông qua được lớp nhôm dày đi vào phần chứa thuốc nổ bên trong. Một lớp bột chất nổ màu vàng bên trong đã thành hình. 




     Bác Trầm đốt một vài que củi xong lấy than hồng thả vào lớp bột thuốc nổ bên trong miệng quả đạn. Người yếu bóng vía làm sao dám làm chuyện này hay dám đứng gần bên?

   Bác Trầm trấn an: 

-KHÔNG RĂNG MÔ ! (không sao đâu)


   Bác nói một cách "chắc ăn" như đã rành rọt từ bao đời. Bác chẳng sợ do bác biết không hề gì. Lớp bột thuốc nổ bên trên bắt đầu bén lửa. Tôi chưa hết cảm giác run sợ lúc đó. Cứ tưởng tượng quả đạn nổ tung thì banh xác hết cả ba người.


    Cơn run của tôi chưa hết, thì đầu đạn bắt đầu bén lửa cháy phùn phụt lên cao. Bác  đợi cho làn khói trắng trên miệng quả pháo bốc lên độ cao vừa ý, xong vội ôm quả đạn đan cháy lội ra giữa hố bom và cắm ngược quả đạn xuống lớp bùn. Quả đạn được sức cháy nên không tắt đi vẫn tuôn những làn hơi nghe "bùm bụp" bắn lên từ đáy miệng hố bom. 

 Thì ra Bác đã kinh nghiệm chuyện này từ lâu, có điều kinh nghiệm này của bác không biết lúc nào?


ÔI NHIỀU CÁ QUÁ ĐI !


    Quả đạn bắn hơi, sôi sùng sục giữa hồ non nửa giờ thì ngưng hẳn. Một cảnh tượng trước mắt, chúng tôi lần đầu tiên mới thấy trong đời!...


    Ôi thôi! bao nhiêu thứ cá trong cái hố bom nhỏ, nói chung bất cứ sinh vật nào núp sống dưới mặt nước này bao lâu nay đều  lo ngoi lên mép hồ để tìm hơi thở. Nhiều nhất là cá tràu, cá trê... chúng thi nhau cằn lên mép cỏ để tìm sống. Chúng thực sự say thuốc súng không thể nào ở nán lại trong làn nước sặc mùi thuốc khói súng vừa đốt. Mấy con rạm, con đam đều chung số phận, chúng thi nhau bỏ nước bò lên.  Ba người chúng tôi, hỉ hả thi nhau bắt cả bỏ vào mấy cái bao cát nylon xanh của Mỹ. 

    Thật là một "CHIẾN CÔNG" lần đầu tiên trong đời người viết mới chứng kiến đối với loài cá. Những con cá thành hình từ ngày TÀN CUỘC CHIẾN trong mấy cái hố sau cái cảnh bom rơi đạn lạc. Ngày tàn cuộc chiến, sau hai ba mùa mưa rơi trên miền đất khổ. Nước hố bom đã định hình một cảnh sống tái sinh. Hố bom cũng là hồ cá cỏn con lẫn trong những vùng đồi hoang dại mà ngày xưa từng ầm vang tiếng bom rền đạn réo. Tôi có ngờ đâu cái cảnh SỤT CÁ HỐ BOM như ngày hôm đó lại mang lại niềm vui cho chúng tôi khi người tù được cá. 


    Từ năm 1977 chúng tôi bị đi đày ra Thanh Hóa cho đến khi vào lại Ái Tử và vô Bình Điền thì mất tin bác Trầm. Có thể bác đã được về trước, thời gian chúng tôi còn ở tại Thanh Hóa. Bác không bị đưa đi rừng lim Thanh Hóa do già yếu.


     Cả nửa thế kỷ qua đi, chắc hẳn năm này Bác chẳng còn trên cõi thế này nữa? Có thể lắm? Do Bác ngang cùng thế hệ với ba mẹ tôi. Nhớ bác Trầm, người kể chuyện không bao giờ quên làn khói thuốc lá ngấy bay bay, rồi hình ảnh mấy cái hố bom bên bụi bờ lau lách đìu hiu cạnh trại tù Ái Tử  năm nào./.


Đinh trọng Phúc

  21/1/2025

nhớ trại 4 Ái Tử 

edit 24/8/2025 San Jose USA

ĐÊM TRÊN ĐỈNH CAO



Vọng gác đêm trường, bâng khuâng tôi nhớ
Chiều chia tay em gái nhỏ
Đếm thời gian trôi, từ ngày ra đơn vị
Tôi bôn ba khắp miền chiến thuật
Chưa một lần về thăm phố phường...
(Ngân Giang - Đêm Trên Đỉnh Sầu)


     Mười ngày mới có một chuyến xe GMC tiếp tế phải tới đỉnh Ông Do, nơi BCH Tiểu Đoàn 105 đóng, nhận hàng do chiếc xe không thể bò tới chốt của từng đại đội được. 

Tuy nhiên hàng "ký sổ" thì chúng tôi có thể từ chốt trung đội, men theo vài triền đồi tranh hướng tới chốt của đại đội. Chúng tôi chọn cách đi tắt như thế để an toàn cho mình.  Chốt đại đội tức là nơi Ban Chỉ Huy đại đội đóng. Chúng tôi tới, chỉ vài người nên Đại Úy Lê Kim Chung chẳng phàn nàn do còn yên không có tiếng súng. Tới đại đội, không khí sao vui hơn; chuyện dễ hiểu do đây là nơi chỉ huy trực tiếp của tôi.

 Chúng tôi sẽ mua thiếu nghĩa là "ký sổ" những thứ chúng tôi cần, tháng tới lương từ hậu cứ mang lên sẽ thanh toán.  Nào kẹo đậu phụng nào sữa Ông Thọ thêm bịch bột gạo lứt Bích Chi, thuốc hút capstan, ruby queen (ruby đỏ), ruby quân tiếp vụ, tệ lắm là  bastos. Tôi chẳng quên chai dầu nhị thiên đường gió núi lạnh lẽo... hầm bà lằng đủ thứ. Một lần đi một lần nguy hiểm, vượt rừng tranh tới được chốt này.

***  

Trời sắp đón xuân 1975 hay cái tết đầu tiên tôi đón xuân trên miệt núi. Trên cao nhìn về đồng bằng là cả một mãng mù sương. Những ngày quang đãng, hướng mắt về Diên Sanh tôi thấy rõ những viền cát trắng. Những lúc trời thật trong tôi còn nhìn thấy mép đại dương xanh ngọc bích.

Ban ngày chúng tôi có thú vui là đánh bài xẹp. Bài xẹp gần giống bài tứ sắc. Đó là cái thú tiêu khiển cho đời lính đóng chốt ở đây. Radio nghe riết cũng hết pin mà hết pin thì khó lòng mua được ngoại trừ dùng lại những cục pin cũ của máy PRC 25 tức là máy truyền tin của trung đội tôi.


BẠN VỚI BAO THUỐC CAPSTAN
Vào những năm này sao lính phần nhiều ghiền thuốc hút Capstan đến thế. Hút xong bao thuốc đọc ngược rồi lại đọc xuôi, tất cả dân hút đều thuộc và đồng ý những chữ đầu của bao CAPSTAN là:

-Cho Anh Phát Súng Tim Anh Nát? ...CAPSTAN
    ĐỌC NGƯỢC LẠI LÀ
-Nhưng Anh Tin Số Phận Anh Còn! ...NATSPAC

  Dù có nhiều câu khác nhưng hai câu trên là hai câu phổ thông nhất mà người lính bộ binh nào vào cái thời ghiền Capstan đều chịu. Điếu thuốc khói vàng cả hai đầu ngón tay, nhưng không có không được? Capstan là lúc còn có tiền, nếu túng quá thì Basto xanh hay tệ hơn nữa là Basto đỏ cũng còn để phì phà cho đỡ cơn ghiền.

            không  ảnh QT trước 1972

   
Nước uống thì chúng tôi phải vác ống đạn bò xuống chân núi để múc nước khe. Đoạn đường nguy hiểm và hồi hộp làm sao? Không phải chúng tôi sợ cọp hay ngại beo mà là sợ bị đối phương phục kích? Nhưng không có nước thì xem như ngồi trên chóp núi mà chịu 'chết khát' thôi. Nhược điểm của đóng quân trên đỉnh cao là thế. Chúng tôi biết làm sao hơn cái chiến thuật vào thời đó có cái tên là “CHỐT và KIỀNG” một danh từ trong quân trường những người sĩ quan sau này đều được học.

Đủ thứ nghi ngại cho căn bệnh sốt tại miền núi Động Ông Do vào thời gian đó. Theo tôi nghĩ, có thể do thuốc khai quang, có thể do muỗi? Do nguyên nhân nào không quan trọng. Chuyện đáng lo là quân số quá thiếu, tiếp vận thì eo hẹp làm sao.

Chuyện lính là vậy, dù sao chăng nữa còn “cái mạng” để hàng ngày được ngắm trời mây sông núi là may mắn lắm rồi.


TIỂU KHU QT ĐÓNG TẠI CỒN CÁT HẢI LĂNG  1973


CÓ KHI TÔI TỪNG MỘT MÌNH LẶNG NGẮM QUÊ HƯƠNG 

Lòng đất khô cằn, nghe quê hương nói
Dù bao gian nguy cánh trở
Với niềm tim yêu
Dòng hùng anh trai Việt
Đang hiên ngang giữ gìn đất mẹ
Tô đẹp lời nguyền câu ước thề 
(Ngân Giang)

Lúc bình an, thư thả tôi đứng một mình trên đỉnh cao, im lặng  ngắm phía dưới chân núi. Có một con sông nhỏ. Đó là một khám phá lý thú cho riêng tôi khi dò trong bản đồ vùng tôi đóng quân tôi tìm ra tên của con sông đó- Sông Nhùng. Ngày xưa tôi quen miệng gọi là "Nhồng'. Cầu Nhồng là tên tôi không bao giờ quên. Ngày còn nhỏ- những năm lớp nhì- lớp nhất- tôi hay vào Diên Sanh. Những năm đó, xe hàng từ Quảng Trị vô phải chạy qua Cầu Nhồng. Con đường Quốc Lộ 1 vào Diên Sanh, qua Hải Thượng tức là con đường cũ. Xe qua Cầu Nhồng rồi mới đến Cồn Dê trước khi đến Diên Sanh tức là Xã Hải Thọ.

Huyển thoại về Cầu Nhồng, thời nhỏ tôi chưa quên. Người ta kể rằng: thời Pháp qua Cầu Nhồng hay có ma. Có khi ma nó xui cho tài xế thấy cả "hai cầu Nhồng" trước mắt và lái tòm xuống sông? Đó là chuyện thời xưa khi còn Pháp, tôi chưa ra đời. Rồi thập niên 1964-65 khi ba tôi làm tại Chi CA Hải Lăng người hay lái xe vào Cầu Nhồng, đi bộ lên một đoạn ném lựu đạn bắt cá. Có hôm bắt được con cá tràu khoanh lại to gần bằng cái bánh xe hơi?

Hôm nay Cầu Nhồng chắc đã vào quên lãng khi Quốc Lộ 1 đổi hướng từ Ngã Ba Long Hưng qua Cầu Dài vào tuốt Mỹ Chánh. Khi viết những dòng này, tôi không biết chiếc cầu đó còn không? Có điều tôi chắc chắn Diên Sanh trở thành "Thị Trấn Đìu Hìu". do Quốc Lộ không còn đi qua nó nữa.

Tôi thú vị với hai chữ Sông Nhùng để ngày ngày ngắm nó uốn éo lượn lờ dưới chân núi. Tiếng là sông nhưng chỉ là con suối dài, nước chảy còn mạnh qua nhiều nơi tung nước trắng xoá. Sông và thảm rừng dưới xa là cả một bức tranh thuỷ mạc.

Đời lính và quê hương đôi lúc tình cảm phát sinh là những lúc lặng ngắm non sông như thế. Trước khi đổi quân lên núi, tôi từng đóng quân mạn biển. Khi tai nghe sóng trùng dương và mắt ngắm biển trời bao la bát ngát, tôi mợt chợt nghiệm ra tình yêu nước dâng trào trong cơn gió lộng. Lên đây, vùng cao: một lần nữa khi đứng trên đỉnh cao ngắm xuống một con sông đang lượn lờ uốn khúc, tôi mới nhận ra quê hương sao đẹp quá! HỒN THIÊNG SÔNG NÚI ngàn đời mãi xanh.

..So với tuyến Barbara vùng núi Mỹ Chánh và Phong Điền ngó lên tuyến Động Ông Đô là tuyến núi ngoài cùng. Chốt trung đội 2 của tôi lại là ngoài cùng của tiểu đoàn 105 do đó xem như tôi là 'đứa ngoài cùng biên giới'? Cái mõm chốt của chúng tôi ngó lên Động Tiên cao chớm chở. Động Tiên thuộc về "bên kia" nên rậm rạp hoàn toàn. Họ không bao giờ biết "đóng chốt" là gì ngoài cái việc ẩn nấp và bụi rậm làm nhà hay khe suối, vực sâu làm đường di chuyển...

Từ chốt này tôi lại nhìn về được hướng Trấm có khúc sông hình chữ U của dòng Thạch Hãn. Con sông uốn mình ở đây và đi tiếp về Cầu Ga. Từ độ cao này nếu cố gắng, tôi còn nhìn thấy hình dáng cái cầu Ga đen sì gãy đổ xuống sông từ năm 1972.

Ở vị trí mới này tôi chẳng còn nhìn về được hướng Hải Lăng nữa. Tôi chẳng còn nhìn xuống được khởi đầu của Sông Nhùng đang uốn lượn dưới kia.

Nơi chốt mới đối đầu với Động Tiên tôi chỉ thấy được mạn An Đôn Tích Tường và cái cầu đen sì gãy đổ xuống dòng sông. Con sông mang tên Thạch Hãn sẽ âm thầm chảy qua chiếc cầu gục ngã đó, rồi men theo những đống gạch vụn cùng lau lách đìu hiu. Một thành phố mà hơn ba năm trước còn lao xao tiếng guốc tới trường. Những toán học trò còn vô tư cắp vở đi học, trong đầu chỉ là những hoài bão ước mơ ngây thơ trong trắng...

Còn lắm điều tưởng nhớ về đống tro tàn của một thành phố thân yêu mà ba năm trước nó còn nguyên vẹn. Rồi tất cả đều phải lìa xa? Còn lại gì? họa chăng là tiếng gió hú đêm trường như thanh âm của những oan hồn kêu khóc.  Rồi từ một đỉnh cao quê hương ngày tôi trở lại, hướng về đống gạch đá đổ nát đó, người lính càng nghĩ, càng ngắm, rồi trầm ngâm ngổn ngang bao cảm xúc trong đầu? Tất cả chỉ là vị đắng, đến bởi bao nỗi tiếc nuối, oán hận khôn nguôi và cũng là lạnh giá như nòng súng bên người.
                                                 
Có thể lớp con cháu sau này sẽ ngạc nhiên khi tôi chỉ nhắc chuyện chiếc cầu đã gãy cùng một thành phố lịch sử từng là một đống hoang tàn từ độ 1972. Một ngày hè, có những người dân khốn khổ phải lìa xa quê hương bản quán trong nước mắt bi thương, khổ hận của một đoạn đường tràn đầy máu lệ. Nếu mai kia nếu có ai thương về Quảng Trị xin hãy cùng nhau thắp lên một nén hương lòng.

 Quảng Trị ơi ngày đó xa rồi ./.

tái biên Đinh trọng Phúc 11/1/2026

NGƯỜI LÍNH NĂM XƯA VÀ KÝ ỨC VƯỜN TAO NGỘ

  VƯỜN TAO NGỘ VÀ MỘT THỜI TUỔI TRẺ MIỀN NAM Hôm nay ngày Chúa Nhật, vườn tao ngộ em đến thăm anh. Đường Quang Trung nắng đổ xa xôi Mà em đâ...