HAI LẦN MẠ THĂM CON TRONG TÙ

 

 
tiếc thương nghệ sĩ đàn bầu Phạm đức Thành đã quá vãng ngày 22/8/2025 tại Sài Gòn 



nhớ công ơn và tưởng niệm hương hồn Mạ 


con Đinh trọng Phúc



    Trại  4 Ái Tử  có Căn nhà THĂM NUÔI vách bằng phên đất, liền vách với cái TRẠM XÁ tức là nơi chữa bệnh cho tù. Hai cái nhà tranh này nằm ngoài Trại cách nhau cái hàng kẽm gai sơ sài thôi và chẳng kỹ càng gì cho lắm. Con đường mòn dẫn vào Nhà Cán Bộ phía bên này là Trại 4. Trại nằm sát con sông nhỏ ngó qua bên kia là thôn Xuân Khê. Dân mới về lại nên thôn đó chỉ có lác đác  một số ít nhà. Sau đó có một cái cầu do tù kiếm  nhiều tấm sắt ri đào từ căn cứ Ái Tử bắc qua con sông nhỏ. Con sông đó có  trên bản đồ Bộ TTM nó phát nguồn từ sông Rào Vịnh hướng nguồn Ba Lòng chảy về tận Ái Tử... 


Tên Xuân Khê gần Trại 4, vào sâu trong kia là Trại 5 và Trại 1 sát thôn Hiệp Khế. Tất cả đều men theo con sông Rào Vịnh. Những cái tên Xuân Khê, Hiệp Khế người viết được biết nhờ vào người cậu của làng ngoại Nại Cửu, Triệu Phong nói cho biết. Trại chúng tôi chỉ biết trước tiên là 5 trại tù tại vùng này thuộc Đoàn 74 và ngày về đầu tiên thành lập là ngày 21/5/1975 dời từ Ba Lòng về đến đây. 


                                          hình: Lá thư nhận trong tù 


   Mạ tôi và đứa con  trai út có tên Trực được vào trại thăm tôi lần đầu sau khi nghe tin tôi còn sống và ở tù tại trại 4. Tôi nhớ thời gian đó vào khoảng cuối năm 1975, đứa em út lúc đó mới tám tuổi.  Mạ và em tôi được ở lại cái nhà thân nhân của trại. Căn nhà thân nhân đó nằm mé triền đất gần mấy trãng đồi đất pha sỏi. Phía sau lưng trãng đồi đó là Nại Cửu Phường một nhánh của Làng Nại Cửu lên đây khai phá không biết mấy đời rồi? Có dịp đi củi tôi mới biết có nhà Ô Ổn và một người dì tên HỒng còn ở đó. Có lần đi củi tôi tạt vào thăm nhà Ô Ổn. Ông Võ Ổn trước 1972 là thợ thổi kèn cho các đám tang. Tôi còn nhớ ngày ông gặp nạn là lúc ông đạp xe đạp đi kỵ  bên nhà Ngoại tôi về. Nhưng lần cuối cùng này ông gặp rủi. Chiếc xe đạp của ông  ngang Nhan Biều bị xe quân xa Mỹ đụng.  Tuy không chết nhưng tội cho Ông bị mất trí nhớ từ đó. Dì Hồng tôi, có thời qua làm cho mạ và dì tôi lúc đang bán hàng tại cái tiệm thuê lại của bà Lê thị Trọng sát Lido Ảnh Quán. Đó là thời gian sau 1968 và trước khi chạy loạn 1972. 


TRẠI TÙ SỐ 4 CÙNG  TRONG HÌNH LỤC GIÁC  CÙNG 4 TRẠI KHÁC NẰM THEO CON SÔNG RÀO VỊNH CHẢY VỀ PHÍA ÁI TỬ


   Tôi từ trại 4 nhờ đi củi cho  nên có cơ hội ghé vào một cái làng  Nại Cửu Phường nói trên.  Tôi gặp Dì Hồng vừa đi củi về, gánh củi sim những cành nhỏ leo teo, bó thật to gọi là củi chồm chồm nhưng nhẹ hều, cháy mau. Hai dì cháu nói chuyện một ít thôi, dỉ nhiên dì là du kích trong thôn và tôi là đứa tù binh thì làm gì nấn ná cho lâu?

 

ngoài tăng gia sản xuất trại 4 còn cắt tranh về bán cho ngoài và còn đi làm muối ở Cửa Việt khoảng năm 1976

   Biết mình là tù nên không thể cấn ná lâu, liên hệ đến bà con nên tôi vội vã chào Dì Hồng ra về. Về thì không phải là về hẳn. Tôi ra lại vạt đồi lấy triêng củi dấu trong bụi rồi gánh về Trại. Trên con đường mòn, ẩn mình sau mấy vạt tranh, tôi vừa gánh củi về nhưng đầu óc vẫn lởn vởn hình ảnh Ông Ổn ngồi im lìm trên chiếc giường tre, mù lòa lú lẫn. Rồi một bà dì này là du kích trong thôn...


   Miên man, tôi phải trở lại chuyện mạ và em trai út ra thăm tôi. Chuyến ra thăm đầu tiên này như đã kể trong những câu chuyện trước là nhờ đi lấy kẽm gai và ri sắt ngoài căn cứ Ái Tử trước chùa Sắc Tứ nên có người gặp bạn tù cùng lán (nhà tù ) là Lê Cảnh Thu người Bích La nói có tôi ở cùng trại và họ làm cách sao đó làm cho gia đình tôi trong Bình Tuy biết được. Theo lời em trai Đinh trọng Thịnh thì mạ tôi tức tốc ra QT nhưng không có giấy ĐI LẠI nên Trại 4 không cho gặp. Tội nghiệp chuyện đau lòng này tôi không hề biết? Mạ tôi về lại Bình Tuy tốn tiền tốn bạc lại vay mượn tiền đi ra chuyến này mới gặp tôi. Có thể thời gian này là cuối 1975 rồi.


   Một đêm ở lại nhà Thăm Nuôi như đã tả trên. Mạ tôi và thằng Trực em út được vô ngay tại lán thăm tất cả hai chục anh em cả 4 tổ trong giờ sinh hoạt ban đêm. Tôi nhớ rõ là Nguyễn Danh Huấn (Gio Mỵ , Gio Linh) làm Lán trưởng. Trần đình Côn cũng người Gio Linh làm tổ trưởng. Non hai năm sau thì Côn và Huấn lần lượt ra trại trước tôi vì có thân nhân CM. Hai người này về địa chỉ Động Đền Hàm Tân kể cả Sơn Mỹ các em tôi đều biết. Một đêm mạ và em tôi trong giờ sinh hoạt nói trên vào thăm trong lán. Một đêm rất lạ do một không khí ấm cúng, mang hơi hám gia đình trong ánh đèn dầu của một lán tù trong giờ “phê bình kiểm điểm” công tác hàng đêm. Một người mẹ và một đứa con nít có mặt trong buổi sinh hoạt này. Ai nấy đều cảm động, thâ ái ra mặt. Từ người cán bộ coi tù, các tổ trưởng, lán trưởng và trại viên như chúng tôi đều cảm động vui vẻ. Thứ tình cảm gia đình đến rất đột ngột, không mong mà có như từ ‘trên trời’ hiện xuống giữa một trại tù. 



   Mạ và em tôi đem củ KHOAI to nhất  của xứ Động Đền (xã Tân Mỹ lúc đó) ra khoe. Có thể trong nhà muốn nói về đất đai và lao động trong Bình Tuy với anh em trong lán.  Tôi còn nhớ trong đêm đó ông Cán Bộ QUản Giáo người Nghệ An thì phải..ai cũng tủm tỉm cười nhất là đứa em tôi khoe củ Khoai To.  Sau đó mạ và em tôi phải ra lại ngoài Trại tức là ở lại Nhà thăm Nuôi (vãng lai) đó một đêm để ngày mai vô lại trong nam ...Quà ra thăm tôi gồm khoai luộc, đường cục, thịt kho bỏ trong gô do mạ tôi có ghé Tây Lộc ở lại và kho đồ ăn và cơm vắt cho tôi cùng vài thứ khác như thuốc rê này nọ những thứ mà vào lúc này tôi quý như vàng.


    Sáng lại tôi đinh ninh là không còn gặp được mạ và em tôi để từ  giã. Nhưng một DỊP MAY lại tới:


   Trại 4 sáng đó có công tác đem bán mấy trăm gánh tranh cho Hợp Tác Xã Triệu Long phía ngoài đường 1 hướng Chùa Ái Tử ngó ra. Tức là gần Chợ Hôm và sông Thạch Hãn. Lán 2 của tôi tức lán hồi hôm mạ tôi được vào thăm cũng gánh tranh ra Triệu Long. Cả đoàn tranh lũ lượt gánh ra gặp lúc mạ và em tôi cũng trên đường ra ngoài đó. Quả là một dịp may. Thật vậy hai mẹ con không có gì mừng hơn. Mạ và em tôi bươn bả đi nhanh theo đoàn người. Cả trăm gánh tranh nhấp nhô lên xuống theo con đường đất đỏ của căn cứ Mỹ trước đây, lúp xúp chạy theo là mạ và em tôi cố gắng chạy theo ở giữa đoàn tù đang gánh gồng.


   Tôi thì quen rồi gánh gồng hai năm nay rồi. Được dịp may gánh tranh ra hướng Quốc Lộ để đi với mạ mình một đoạn đường như vậy thì không gì mừng hơn. Nhưng mạ tôi một tay dắt con trai út, vừa bám theo tôi nhưng tôi thoáng thấy trên mặt mạ mình sao quá nhiều ĐAU XÓT. Tôi hiểu từ ngày giã từ thời học sinh cho đến lúc vào lính ra trường ‘lon lá’ đàng hoàng oai phong tề chỉnh, có khi nào mà mạ tôi lại thấy và đây là lần đầu tiên trong đời người mẹ thấy đứa con trong bộ đồ tù rách rưới, gầy gò và gánh hai bó tranh to chạy lúp xúp như thế này đâu? Tôi lại nghĩ chắc mạ tôi đang đau xót cho tôi đang đau vai và mệt lắm chăng? Mạ tôi đâu có biết rằng tôi đã quen rồi với những ngày lao động. Cả cây gỗ nặng, lội trong rừng, ra đến rừng bụng đói còn vác được mười mấy cây số về trại. Huống gì giờ đây là gánh tranh khô khốc, và được gánh chạy bên mẹ và em mình thì chẳng có gì là khổ.

   Đoàn tù gánh tranh đang qua chiếc cầu vượn bắc qua con suối, đoạn này đã đến thôn Ái Tử.

   Chợt mạ tôi lên tiếng:

            -ĐỂ MẠ  GÁNH  CHO  CON ?

           -Thôi mạ,  con không mệt, ăn thua chi mô, con quen rồi mạ đừng lo.


    Nét mặt mạ tôi vẫn không hết âu lo áy náy. Tôi không có thì giờ và thật sự chẳng có điều kiện nào để dừng lại nói cho mạ tôi hiểu, để người bớt lo buồn. Cán bộ dẫn tù cho mạ và em tôi đi bám theo đoàn tù như hôm nay thật sự mà nói họ quá tử tế rồi.  Dỉ nhiên không ai nỡ lòng đành đoạn cản ngăn chuyện này. Mạ tôi và em tôi cũng là hình ảnh gia đình của họ ngoài kia. Và người chiến thắng họ chẳng cần gì làm chuyện khó dễ làm chi.


   Mấy cây số ba mẹ con gần nhau, trên đoạn đường quê hương của một miền rú càn gần chùa Sắc Tử. Ngoài chùa Sắc Tử còn có mộ phần của những người thân, một ngôi chùa thân quen với bà ngoại tôi từng là bà Vãi và tôi với những kỷ niệm ra chùa thăm. Sau lưng tôi là Nại Cửu Phường cũng là bà con làng ngoại lên đó lập nghiệp. Những con đường quê hương đầy mùa sim chín đầu tiên của tháng tám năm 1975 là năm đầu tiên xây trại tù Ái Tử…từ lúc ở Ba Lòng chuyển tù về đây.


   Cho đến hôm đó một lần mạ tôi ra thăm đứa con trai lần đầu. Cũng là lần đầu mạ tôi thấy tôi lam lũ, mồ hôi ướt đẫm bên gánh tranh vẫy nhịp chạy với cả đoàn tù gánh tranh đi bán dài lê thê như thế. 


   Trong niềm sung sướng vô bờ khi biết tin con trai còn sống, còn ở tù ở đây và cũng kèm theo những quặn thắt đau trong lòng mạ tôi khi nhìn hình ảnh tôi tiều tụy thảm não như hôm đó?


   Đoàn tranh đi bán chúng tôi đã ra đến Quốc Lộ 1. Mạ và em tôi đứng lại bên đường chờ xe hàng ngoài hướng Đông Hà vô…Tôi không được phép dừng lại tiễn mạ và tôi vô nam, chẳng được thì giờ dừng lại nhắn nhe điều gì…Tôi phải gánh chạy theo kịp đoàn tù vượt qua bên tê đường vào giao tranh cho Hợp Tác Xã Triệu Long. 


   Tôi cố gắng ngoái lại nhìn hình dáng hai người mạ và em tôi đứng đợi xe chơ vơ bên đường Lộ một. Hình bóng hai mẹ con nhỏ dần và khuất hẳn sau những lùm cây dứa dại, phần tôi tiếp tục lo gánh tranh chạy theo cho kịp  đoàn tù. Vừa chạy, lòng tôi vừa dâng lên nỗi buổn ảo não,  nguyện cầu sao cho mạ và em tôi mau đón được chuyến xe nào đó để vô nam .






hình cũ năm 1995 bạn bè đồng môn thăm mạ tôi tại Cam Bình Hàm Tân, lúc này gia đình người viết đã định cư tại Mỹ

tháng 1/ 2017 TÔI VỀ THĂM MẠ THÌ MẠ BẮT ĐẦU LÚ LẪN QUÊN HẾT MỌI THỨ





1978 LẦN 2- MẠ TÔI RA CHỈ ĐƯỢC 20 PHÚT GẶP CON 



THƯƠNG CHO MẸ GIÀ HƠN 1000 CÂY SỐ ĐƯỜNG XA !


Ngày 7/9/1978 Nghe tôi t Lòng Hồ Sông Mc đã vào lại Ái Tử,  m tôi t Bình tuy ln li ra thăm con cũng ti trm xá   chữa bệnh cho tù. (trong bài viết Tù Đi Thắt Trĩ) tác giả có nhắc lại.

Thương cho mạ tôi, hơn mt ngàn cây s đường xa, phải vay tiền bạc để ra trung thế mà mạ tôi chỉ được phép gp tôi vn vn hai mươi phút ngay trước  mái tranh trạm xá đó. Thương quá mẹ ơi, hình ảnh mẹ ngồi bệt trước cái sân đất, hai giỏ quà trong chẳng có chi...

Người tù không thể quên hình ảnh đôi mắt người mạ mình u ẩn một nét buồn xa vắng làm sao? Nỗi thương nhớ con dâng trào nhưng chỉ trong 20 phút hiếm hoi ngày đó. Năm 1975 vừa thành lập trại 4 Ái Tử như phần trên mạ tôi ra thăm cùng đứa em trai, có thì giờ nhiều chừng nào thì bây giờ eo hẹp chừng đó.  Tôi chng có đủ thì gi dn dò nhng gì mun nói vi Mạ. 

Rồi Mạ  phi vi vô nam sng nhng ngày cực kh nơi vùng kinh tế mi thiếu vng con trai, thiếu sc lao đng. Tội Mạ, chỉ gặp được con trong hai mươi phút đánh đổi một chặng đường xa, một hơn ngàn cây số ngập tràn lao lư khổ nhọc. Tội nhớ làm sao nét mặt buồn bã của mẹ mình. Mẹ chỉ kịp nói nhỏ với tôi có "gửi 20 đồng" nơi o Cai - người bạn thân quen từ thời  con gái. Tôi nhớ O, người bạn mạ nói giọng bắc, o ngày xưa buôn chè tươi rau trái Gio Linh, Nam Đông nay cũng bán chè lá tại Chợ QT mới. Cái chợ mới đó ở ngã tư QL1 và La Vang, vừa mở thì chạy 1972 sau 1975 cũng mở lại cho dân khi thành phố QT cũ vẫn là đống hoang tàn. 

Tôi không còn nhớ mạ có bới cho con thứ gì? Chỉ nhớ thứ còn lại là mớ khoai luộc khi đổi trại chuyển vào Bình Điền ngày 23/11/1978 và trong hồi ký "Con Chuột trong Trại Tù" chính con chuột đó đã "ăn cắp" mớ khoai luộc cỏn con còn lại của người tù binh.

 Mạ vào nam rồi tiếp tục bán mua tảo tần ở cái chợ nghèo nhưng vẫn canh cánh tìm cách ra lại thăm con lần nữa. 
May làm sao, mạ vừa xin GIẤY ĐI LẠI xong thì con đã được Ra Trại.  Thế là mạ khỏi ra trung, đường lên Bình Điền Tây Nam Huế, lạ lẫm gian nan không giống đường ra Quảng Trị lần trước. Con đã ra trại và mạ không đi nữa, thật may làm sao! 

Giờ Mạ và Ba đã ở phương trời miên viễn, thật xa. Tuổi già đang đến với đứa con trai của mạ năm xưa. Những lúc hoàng hôn trời chiều nhạt nắng nơi xứ lạ quê người có lúc ngồi thơ thẩn một mình con nhớ bóng mạ hiền, thương người cha già sáng sắn chiều khoai...con nhớ ba mạ thương về ngày tháng lao lư sau ngày ra tù về với gia đình, thật nhiều./.


Đinh trọng Phúc

28/11/2025 San Jose USA





TỜ GIẤY PHÉP ĐI LẠI  CUỐI CÙNG NGÀY 17.7.1980 MẠ TÔI XIN ĐI THĂM  TÔI LẦN NỮA, NHƯNG CHƯA ĐI RA TRUNG  THÌ TÔI Đà ĐƯỢC THA VỀ 






TRĂNG TÀN TRÊN HÈ PHỐ

 



 

Tôi lại gặp anh người trai nơi chiến tuyến
Súng trên vai bước đều qua hè phố
Tôi lại gặp anh giờ đây nơi quán nhỏ
Tuổi ba mươi mà ngỡ như trẻ thơ …(Trăng tàn Trên Hè Phố  -Phạm thế Mỹ)

 

Bạn mến



    Có những bản nhạc thật xưa, lời rất cũ thế mà lạ, chúng ta vẫn nhiều cảm xúc khi nghe lại bao ý niệm chân tình lồng trong ý nhạc.  Đó là những tình ca một thời chinh chiến làm xao xuyến lòng người. Bao thập niên trôi qua, lại có những người lính già còn lại nơi đất khách quê người chợt nhớ một thuở thanh xuân- một thời cống hiến ra đi gìn giữ quê hương. Quá khứ không tròn ước nguyện, nơi chân trời lưu lạc lại nhớ về nhau, bao đồng đội nay đứa còn đứa mất. Nhớ làm sao bạn bè trang lứa cùng xếp bút nghiên lên đường đáp lời sông núi.




Người còn lại ngồi nhớ những phút giây tao ngộ, cùng thả hồn theo khói thuốc trầm tư. Thời gian ngắn ngủi gặp nhau, hỏi han chưa đủ rồi vội chia tay, đứa  quân trường đứa ra đơn vị mỗi người một ngả. ..


Hôm nay đây bao thanh âm cũ chợt về nhưng quá khứ chẳng còn trở lại. Nhớ sao ngày đó, chúng ta cùng nhau thả hồn theo khói thuốc bay bay, tâm hồn bảng lảng theo lời ca ý nhạc, cảm xúc dâng trào...


Chỉ có chúng ta lớp trai thời tao loạn  có dịp nghe lại mới trân trọng hòa nhịp cảm thông. Đó là may mắn cho những người lính già còn sót lại còn những người đã nằm xuống cho quê hương, họ đã ra đi mang theo bao nỗi hẹn hò cùng hình ảnh một quán nghèo bên phố và mảnh trăng khuya.


Người bạn cũ ra đi và ra đi mãi mãi. Anh cũng như tôi như cả chúng ta cùng giã từ mái trường thân yêu cùng hàng cây gốc phượng. Chia tay với những ngày hè vang tiếng ve kêu rộn rã cùng tà áo người thương khuất dần bên cổng trường những ngày sao thơ mộng quá. Tiếng bom đạn xa xa dội về thành phố và những chuyến quân xa chở bao lớp thanh niên lên đường có anh có tôi. Chúng ta ra đi không những nhớ mái trường xưa mà còn luyến lưu ghi đậm vào tâm tư hình ảnh bao buổi chiều vàng của quê hương thương nhớ nơi đó có mẹ có em có người thương ngóng đợi tin về.

 



Và ngày về năm đó chúng ta gặp lại. Đường khuya như mừng rỡ đón bước chinh nhân. Quán nghèo bên phố như ấm áp hẳn lên bên câu chuyện chúng ta bên hai ly cà phê đen đang tí tách giọt rơi. Nắng quân trường  hay chinh chiến phương xa nay chúng ta tái ngộ. Hàn huyên tâm sự biết mấy cho vừa. Bạn đã về một ngày phép ngắn ngủi, thời gian eo  hẹp gặp mẹ gặp lại em thơ cùng người yêu vẫn thẹn thùng giữ lời hẹn ước…


Có ai nói trước được tương lai khi lớp trai ngày đó đã chấp nhận màu áo lính lên người. Đó là một khoảng đời, ngày tháng tuổi xanh không phải chúng ta đánh mất mà chúng ta cống hiến. Bao mộng ước tương lai đành gác lại những gì hăm hở nao nức từ con tàu mơ mộng lao nhanh. Rồi từng lớp trai chúng ta vẫy tay tạm biệt.


Lối gầy về nhà anh hoa vẫn nở
Kỷ niệm từ ngày xưa chưa xoá mờ
Ánh đèn vàng ngoại ô vẫn còn đó
Bạn anh vẫn còn đây sống cuộc đời hôm nay
Với bọn mình đêm nay…



Hôm đó anh về, đôi bạn bên nhau, bên ly cà phê, điếu thuốc hàn huyên tâm sự. Phố đã về khuya, ngọn đèn vàng nhạt nhòa hiu hắt. Mảnh trăng gầy nghiêng nghiêng dọi bóng đôi ta như báo trước một đêm hàn huyên nay đang về sáng để bạn phải chia tay lên đường trở về đơn vị. Bạn vừa về thăm lại lối cũ xóm xưa. Một thời gian ngắn xa hậu phương thôi nhưng bao nhớ nhung tưởng cả một đời. Bạn hiểu tôi và tôi hiểu bạn; chúng ta cảm thông cho những ước vọng màu xanh đành bỏ lại để sống trọn kiếp trai giữa núi đồi hoang dại.



Anh sống đời trai giữa núi đồi
Tôi viết bài ca xây đời mới
Bờ tre quê hương
Cây súng anh gìn giữ
Tôi hát vang giữa đời để người vui...



Những khoảng thời gian lướt qua mau quá. Những phận đời như mây trời gió núi loang loáng đi mãi tận đâu. Bạn chỉ một lần trở lại hậu phương chờ đón một lần và mãi mãi chẳng còn hẹn ngày trở lại. Bạn bè còn lại nay tóc bạc da nhăn, tuổi già lụ khụ. Chỉ còn lại hôm nay người lính già xa quê  ngồi nhớ vẩn vơ với hình ảnh TRĂNG TÀN TRÊN HÈ PHỐ cùng bao kỷ niệm vơi đầy ./.


Đinh trọng Phúc
ĐĐ 2-Tiểu Đoàn 105 ĐPQ /TKQT

Dinh trọng Phúc - RỪNG SIM BÊN TRẠI TÙ


Những đồi hoa sim ôi những đồi hoa sim tím chiều hoang biền biệt.
Vào chuyện ngày xưa nàng yêu hoa sim tím khi còn tóc búi vai...(Dzũng Chinh/ thơ Hữu Loan/ Những Đồi Hoa Sim)


*

Chào bạn đọc

Trung du miền trung có những đồi sim thơ mộng nhất là khi hoa sim nở đều theo những triền đồi thoai thoải. Ngày xưa ai là người thành phố từng có những cảm giác thích thú thật tình. Những thi sĩ văn nhân hay người nhạc sĩ bao lâu nay từng có những bài thơ, áng văn hay nhiều tình khúc về SIM. Sắc tím hoa sim người đời khó lòng làm ngơ cho được? 
Thế nhưng có một lớp người; đó là những người tù binh VNCH những người lính một ngày thua trận "gãy súng" với số kiếp lao tù từng có nhiều kỉ niệm buồn tê tái với những ngày lao lư mệt mõi  bên đoạn đường rừng hay núi càn Quảng Trị cùng với mùa sim nở rộ cùng sắc tím ngập tràn. 
Màu tím của tình và thơ ngày xưa không còn nữa, ngày tháng đó chỉ là màu tím tuyệt vọng ảo não tâm tư của tháng ngày tù tội.
Tình cờ hôm nay, người viết thấy bạn hữu post hình những trái mốc mốc đố nhau trên mạng, tôi chợt nghĩ rằng chỉ có dân QT mới biết những trái cây hoang dại này thôi. Không biết ý nghĩ này có đúng không? Riêng tôi rất nhớ về hình ảnh những đồi càn vùng trung du Ái Tử. Ngày trước những ai có dịp đi lên nơi này thường hay gặp những đồi sim tím. Đến mùa, sắc hoa màu tím hoang dại như lan xa tới tận chân trời. Xen giữa rừng sim có một vài thứ cây gọi là mốc mốc, muồng...  Sim, mốc, muồng đó là những thứ chúng tôi khó lòng quên được ...


               HOA SIM THẬT và trái chín

    Tình c tôi đc li li k ca thi sĩ Hu Loan v câu chuyn tình xưa va lãng mn và u bun tôi mi ln mò tìm hiu cái màu tím hoa sim trên mng.


Nhà thơ Hữu Loan và vợ sau, bà Phạm Thị Nhu năm 2009.





Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt ...

Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết


(1949, khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh)

   
Thi sĩ Hu Loan có mt màu tím ca thơ, ca tình yêu trong quá kh. Mt bài thơ nếu tôi không lm là bài thơ tình mà dân ta cho là "hay nht trong thế k hai mươi" mt thi đi thơ mới làm phong phú thêm cho kho tàng tiếng Vit. Chuyn tình Màu Tím Hoa Sim là mt tình s có tht, không chút gì hư cu, nhân vt chính và ph đang còn sng đ chng nhân cho đ mc này và chính vì chuyện có thật đã làm tăng thêm giá tr chuyn tình "màu tím hoa sim.        
                                         
  Nhờ tôi muốn nhắc về  chuyện khác, đó là phân biệt th hoa sim trên mng hin nay, thứ nào là hoa sim thật.








hoa mua bên trái / hoa trái sim bên phải 





Tôi dám tin rng th hoa sim chính gc thì nhng người tù ci to đã "ghi mãi trong lòngCó hai loi sim -ăn được và không ăn được. Sim không ăn được, chúng tôi hay gi là "SIM MUA". Cây sim mua cũng có trái, nhưng thô ráp, không chín ngt như sim thường, chỉ được một điều: sắc hoa mua màu dịu dàng, e ấp, xen kẻ với những lùm sim hoa trái sum xuê dưới trời mây thênh thang, hoang vắng.



Nhớ về năm tháng cũ, chúng tôi khó quên được nhng khi vác cây từ rừng về trại. Người viết không thể không viết lại hình ảnh đáng nhớ từ một vùng trung du Qung Trị. Một vùng đồi càn có rất nhiều hoa dại.  Nhớ nhất đó là  hình ảnh nên thơ của nhng đi sim đến mùa, hoa tím bt ngàn. Hoa sim đẹp quá; nhưng trái sim  cũng từng "an i" phn nào cho thân phận bao người chiến bại. 




Nhc li quá kh không phi nhc li chuyn chiến tranh, nhưng du ấn khó quên nhng bui chiu tà, lán tri đường v còn xa dưới my chân đi tm quên gánh nng cây g trên vai. Nhng đi sim là thc tế trước mt chúng tôi, nhng trái sim chín mng- tháng Tám- căng tròn làm chúng tôi ngn ngơ lang thang mãi đến ni không thiết tha gì đến chuyn đi về?

---------------------------------------

năm 2006 Nhạc Sĩ Phạm Duy tới thăm nhà thơ Hữu Loan



Nhà thơ Hữu Loan, tác giả của bài thơ “Mầu tím hoa sim” đã vĩnh viễn từ giã cõi đời khi chuẩn bị bước sang tuổi 95 (12.4.1916 – mất 18.3.2010 )
-----------------------------------------------------------------  

 Ngày xưa nhà thơ Hu Loan nhìn màu tím hoa sim mà quay qut nh thương ngưòi v tr xu s, còn chúng tôi lúc này đang len lỏi mãi trong my đi sim mà cám ơn đt tri Qung Tr đã ban cho chúng tôi chút gì an i còn lại. 
 trái mốc mốc

Tháng by sim- tháng tám mmc- tiếp ni tháng chín tháng mười, tri thuơng ban thêm mung. Nhng chùm mung khi chín đã mt đi màu vàng sc s mà là mt màu đen thm. Mung chín  cho v ngt ca loi mt chà là, x Nghìn L Mt Đêm ca nhng huyn thoi. 

Nhng liếp đi hoang vu chy xa tít, nhng con đường mang tình thương cho nhng ai sa cơ tht thế. Và c thế nhng con đường đi mãi, ngon ngoèo lên tn rng xanh. Chiu v nhng đi sim san sát nhau, lan xa tn cui tầm mắt. Ôi thương sao màu tím hoa sim cùng v ngt trái lành. Lãng mạn hơn chúng tôi xin gọi sim chín là "người yêu" ca người thua trận.

chim đa đa

Chúng tôi len lỏi vào giữa đồi sim chín trong khi tai nghe tiếng con chim đa đa kêu trên gò mối xa xa nào đó hay tiếng con chim "bắt cô trói cột" mà chúng tôi ưa đổi thành:

-Không còn cơ cuộc!
không còn cơ cuộc ...
để ám chỉ cho thân phận mình hay chăng?


             chim 'bắt cô trói cột'

Trong khoảng trời thanh vắng với núi đồi trung du đầy tràn mùa sim. Đó là khoảng thời gian chúng tôi tự cho là tự do, thú vị nhất trong tháng ngày tuyệt vọng.


bạn Phạm Quý tại Thốt Nốt Long Xuyên và màu tím hoa MUA  hình 2/12/2017 (Phạm Quý khoảng năm 1989 có thăm gia đình ĐHL một lần tại Xã Sơn Mỹ Hàm Tân nơi này bạn đó từng ở qua đó là vùng Động Đền của Lưu Dân Khẩn Hoang Lập Ấp 1973)


hoa và trái mua

 thật vậy; không phải viết để cho có viết. Có những lúc tôi nhớ lại hình ảnh ngày xưa những ngày tàn cuộc chiến...những đồi sim hoang dại vắng ngắt bỏ vác cây rừng bên con đường mòn về trại rồi len lỏi tìm cái 'ăn'. Ôi những trái sim chín vị ngọt ngào an ủi rất nhiều cho những tâm hồn đang buồn da diết ..thỉnh thoảng có những tiếng chim rừng kêu văng vẳng đó đây. Cánh đồi hoang về chiều buồn làm sao? một không gian hoang vắng chẳng có bóng người. Đâu đó trong những lùm cây rậm vài khẩu pháo phòng không của quân miền bắc bỏ hoang lại đây sau cuộc chiến vừa tàn những nòng pháo vu vơ chỉ lên trời? một khối sắt vô tri còn sót lại từ một cuộc chiến tàn khốc một thời gian gầm rú tiếng đạn réo bom rền ...dĩ vãng chiến trận lướt qua như khúc phim ngày nào đó những binh đoàn những người lính chiến những đoàn xe tăng và phi cơ gầm thét...

*

  Bốn mươi năm sau, tâm trạng người viết thật ngạc nhiên lẫn chút gì "mừng mừng" khi  sắc hoa màu tím hoang dại của sim được người đời  chưng vào những chậu hoa một cách trân trọng. Sắc tím của hoa MUA- loài sim không ăn được nhưng màu tím mặn mà của nó lại được bạn bè chăm sóc, nâng niu. Đổi thay cũng là chuyện thường tình cho nhân thế cũng như cho tạo vật. Một thời sống cùng thiên nhiên nay sắc tím kia đang có một vị trí ưu ái nào đó trong mắt giới yêu hoa.

Tháng ngày qua đi, cứ mỗi lần nghe li bài hát "Những Đồi Hoa Sim" tôi vẫn chnh lòng thương v mt min trung du xa vời trong tiềm thức. Một ngày xưa nơi quê hương ca nhng MÙA SIM TÍM, sắc màu buồn thương trong hoài niệm xa vời./.

Đinh trọng Phúc


NGƯỜI LÍNH NĂM XƯA VÀ KÝ ỨC VƯỜN TAO NGỘ

  VƯỜN TAO NGỘ VÀ MỘT THỜI TUỔI TRẺ MIỀN NAM Hôm nay ngày Chúa Nhật, vườn tao ngộ em đến thăm anh. Đường Quang Trung nắng đổ xa xôi Mà em đâ...